Hôm nay,  

Lễ Phật Đản

23/05/201300:00:00(Xem: 7017)
Đức Phật nguyên là một vị Đại Bồ tát ra đời vì bản nguyện cứu độ chúng sinh, Ngài đản sanh nhằm ngày rằm (15) tháng tư âm lịch, tại vườn Lâm-tì-ni (Ấn Độ), năm 624 (TCN). Theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này là ngày Tam hiệp (Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn). Nguyên tên của Ngài là Tất Đạt Đa. Họ Ngài là Thích ca, một chi nhánh của họ Kiều tất la, nên tên Ngài gọi đầy đủ là Kiều tất la Thích ca Tất Đạt Đa (Kosala akya Siddhrtha). Còn Mâu ni là đức tính trong sạch, thanh thản của Ngài. Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca tỳ la vệ (Kapilavastu), mẹ Ngài là bà Hoàng hậu Ma da (Maya). Nước Ca tỳ la vệ là xứ Pipaova ở phía Bắc thành Ba la nại (Bénares) ngày nay. Ngài sinh ra vừa được bảy ngày, thì mẹ từ trần. Bà dì Ngài là bà Ma ha Ba xà ba đề nuôi nấng chăm sóc Ngài.

Trước năm 1959, các nước Đông Á, thường tổ chức ngày lễ Phật đản vào ngày 8 tháng tư âm lịch. Nhưng sau đại hội Phật giáo thế giới lần đầu tiên, tại Colombo (Tích Lan), có 26 nước thành viên tham dự, từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 8 tháng 6 năm 1950, đã thống nhất ngày Phật đản quốc tế là ngày rằm (15) tháng Tư âm lịch, là ngày đản sanh Đức Phật.

Phật Đản là ngày lễ trọng đại được tổ chức hằng năm, bởi cả Nam tông và Bắc tông. Lễ Phật đản ngày nay, người ta thường gọi là Vesak. Vesak là tiếng Sinhala từ chữ Vaishakha trong tiếng Pali, là tên gọi của tháng Hai theo lịch Ấn Độ giáo. Ấn Độ gọi lễ Phật đản là Vesak; Bangladesh và Nepal gọi là Visakah Puja (lễ hội Visakah); Thái Lan gọi là Visakha Bucha; Indonesia gọi là Waisak; Tây Tạng gọi là Saga Daw; Lào gọi là Vixakha Bouxa.

Khái quát về cuộc đời của Đức Phật:

1- Xuất gia: Thái tử Tất Đạt Đa, được vua cha thương yêu vô cùng, nhưng sau khi thấy người đời loay hoay trong vòng: Sinh, bệnh, lão, tử. Ngài suy nghiệm cuộc đời là vô thường, là bể khổ, lòng thương chúng sanh thôi thúc, Thái tử không còn vui được nữa; nên tìm đến một vị Sa môn, hỏi thăm cách tu hành để giải thoát khổ đau. Dù lúc ấy, Công chúa Gia Du Đà La, đã hạ sanh được một Hoàng tử (La Hầu La), nhưng Ngài vẫn quyết tâm xuất gia vào ngày mồng 8 tháng 2 lúc 29 tuổi. Ngài cưỡi ngựa vượt hoàng cung với người hầu cận trung thành Xa Nặc; trong khi mọi người đang say sưa giấc ngủ.

Đi sâu vào rừng đến bờ sông Anoma, Ngài cắt tóc và thay đổi y phục, bảo Xa Nặc đem về trình Phụ hoàng và tỏ rõ quyết tâm xuất gia của Ngài. Từ đấy, Thái tử dấn thân tìm đạo. Ngài đi đến thành Vương xá (Rajagriha) xứ Ma kiệt đà, tìm đến các vị Đạo sĩ Bà la môn để tham khảo phương pháp tu hành. Sau một thời gian tu luyện, Ngài thấy lối tu này khó tìm ra được chân lý. Ngài liền vào rừng Ưu lâu tần loa xứ Phật đà già da (Bouddhagaya) tu hạnh ép xác, một ngày chỉ ăn 1 hạt mè, 1 hạt gạo và suy ngẫm trong 6 năm, song vẫn thấy vô hiệu. Ngài nhận thấy lối tu khổ hạnh, không thể tìm ra giải thoát. Và sau khi nhận bát sữa của nàng Tu Xà Đề (Sujata) dâng cúng, thân thể bình phục, tâm hồn sảng khoái, Ngài đến dưới gốc cây bồ đề ngồi trên thảm tọa và phát nguyện: “Nếu không tìm ra chân lý thì thà chết ta không rời thảm tọa này”.


Trải qua một thời gian thiền quán, Ngài đã chiến thắng được tất cả những tật xấu xa của thân thể và nội tâm. Ngài cũng trừ bỏ được mọi sự phá rối của Ma vương bên ngoài.

Theo giáo lý Phật giáo: Vào canh một, Ngài chứng được “Túc mạng minh”, quán chiếu sự sanh diệt trong nhiều kiếp trước, thấy một kiếp, hai kiếp, rồi vô số kiếp... và tương lai của mình. Đến nửa đêm, ngộ được “Thiên nhãn minh”, thấy được cả vũ trụ bao la, thấy được sự sanh diệt của chúng sanh, hết thế giới này đến thế giới khác. Cuối đêm vào lúc sao mai vừa lộ dạng, Ngài ngộ “Lậu tận minh”, quán triệt nguồn gốc sanh tử luân hồi, và hoàn toàn “Giác ngộ”.

Sau khi thành đạo, Ngài đã than: “Than ôi! Chúng sanh vốn đầy đức tướng trí huệ Như lai, nhưng chỉ vì vô minh che lấp nên phải sanh tử luân hồi đấy thôi!”

3- Truyền đạo: Từ đó về sau, Đức Phật không ngừng truyền bá giáo pháp của Ngài cho chúng sanh. Từ các bậc vua quan đến những kẻ bần cùng. Trong 45 năm hoằng pháp, Ngài đem lại niềm hân hoan thoát khổ cho vô số chúng sanh. Ngài dạy chúng sanh giáo lý “Tứ diệu đế”, gồm có:

a- Khổ đế : Khổ vì sinh, lão, bệnh, tử.
b- Tập đế: Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn.
c- Diệt đế: Buông bỏ lòng tham.
d- Đạo đế: Phương pháp diệt khổ, nương theo Bát chánh đạo, trong Bát chánh đạo có 8 điều chánh, theo giáo lý đạo Phật là:
a- Chánh kiến: Giữ gìn tứ diệu đế.
b- Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng đắn.
c- Chánh ngữ: Không nói dối hay không nói phù phiếm.
d- Chánh nghiệp: Tránh phạm giới luật.
e- Chánh mệnh: Tránh sát sinh (không giết hại).
f- Chánh tinh tiến: Làm điều thiện, diệt trừ điều ác.
g- Chánh niệm: Tỉnh giác về thân, khẩu và ý.
h- Chánh định: Định liệu, nghĩ ngợi chân chính.

4- Thuyết pháp, độ sanh: Sau đó, Đức Phật đến vườn Lộc Uyển nói pháp Tứ đế, độ cho 5 ông tỳ kheo (Kiều trần Như, Ác Bệ, Thập lục ca Diếp, Ma ha nam Câu ly và Bạc Đề). Từ đó đạo Ngài truyền khắp xứ Trung Ấn Độ và lan mãi khắp hoàn cầu.

5- Nhập diệt: Trải qua 45 năm trên đường hoằng pháp, Đức Phật đã đưa ánh đạo vàng, hóa độ chúng sanh khắp nơi. Vô số người đã được mang ơn giáo hóa của Ngài mà trở về với chánh pháp. Đức Phật nhập diệt tại rừng Ta la song thọ, để lại những nỗi thương tiếc tràn ngập lòng người. Đức Phật nhập diệt lúc 80 tuổi, nửa đêm ngày rằm tháng hai âm lịch (Ấn lịch). Với sự hy sinh liên tiếp trong vô số kiếp của Ngài, Ngài là một Đức Phật đầy đủ phước đức và trí huệ. Đến nay, ngày rằm tháng tư là ngày lễ Phật đản, mà thế giới đã công nhận.

Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.