Hôm nay,  

Thất Bất Giảng

24/05/201300:00:00(Xem: 9063)
Bảy Điều Không Được Bàn Tại Trung Quốc – Và Tám Điều Cấm Tại Việt Nam

Văn phòng Biện Công Sảnh của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc vừa đưa ra một chỉ thị được lặng lẽ phổ biến cho các đại học.

Biện công sảnh (hay Bạn công thinh theo cách nói tại Trung Quốc) là bộ phận lo công việc thường vụ của bộ Chính trị và ban Chấp hành Trung ương, kể cả việc ban hành chỉ thị từ trung ương xuống các cấp bộ ở dưới. Chỉ thị ở đây có tên tắt là "Thất bất giảng", bảy điều không được bàn cãi giảng giải.

Sau khi được các đại học thông báo về sự cấm đoán này, các giáo sư mới than phiền, mà vẫn phải giấu tên để khỏi bị kỷ luật. Nhờ vậy mà từ đầu Tháng Năm vừa qua, thế giới bên ngoài mới được biết về tư tưởng và chủ trương của cấp lãnh đạo mới tại Trung Quốc, thế hệ thứ năm hay "Thế hệ Tập-Lý" của Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường.

Vì các trí thức Trung Quốc không được luận bàn - và học sinh sinh viên không được giảng dạy - về "bảy điều cấm", ta nên tìm hiểu xem lãnh đạo mới của Trung Quốc e ngại những gì.

Thứ nhất là các giá trị phổ cập trên hoàn vũ, "universal values".

Từ khi câu mở đầu của Jean Jacques Rousseau là "con người ta sinh ra ai cũng có tự do" trở thành tôn chỉ ghi trong hiến pháp của các nước, nhân loại đã tiến rất nhiều và chấp nhận những giá trị phổ cập. Đấy là loại quy ước có thể là bất thành văn hoặc viết thành luật theo đó con người ta phải có những quyền căn bản như tự do, dân chủ, quyền bình đẳng trong xã hội và cả quyền truy tìm hạnh phúc, thịnh vượng, v.v.... Trung ương đảng tại Bắc Kinh giăng tấm lưới khá rộng khi cấm thần dân bàn cãi về những giá trị phổ cập của thế giới văn minh. Lãnh tụ Tập Cận Bình và Ban Tuyên truyền Trung ương còn nói rõ hơn, rằng loại "giá trị phổ thế" này là một tư tưởng của Tây phương mà Trung Quốc phải canh chừng và đả phá.

Thứ hai là quyền tự do báo chí.

Các quốc gia văn minh nói đến nguyên tắc "tam quyền phân lập", là sự hiện hữu của ba cơ chế quyền lực độc lập và bình đẳng xuất phát từ người dân là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng họ còn nói đến "đệ tứ quyền" là cơ chế quyền lực thứ tư, đó là truyền thông báo chí. Quyền tự do báo giúp người dân thấy ra sự thật khách quan và có được thông tin cần thiết cho sinh hoạt thường nhật, từ kinh tế đến chính trị hay văn hóa. Dù đã duy trì chế độ kiểm soát tư tưởng và thông tin, với một Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương ngồi trong Bộ Chính trị, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn phải cấm bàn luận về tự do báo chí, cho nó chắc. Nhà nước vẫn giữ độc quyền chân lý và báo chí chỉ là con vẹt.

Thứ ba là "xã hội dân sự".

Khái niệm "civil society" là điều tương đối mới mẻ dù thực tế thì đã hiện hữu từ thời cổ, chuyện "phép vua thua lệ làng" là điều mà xã hội nào cũng có vì người dân một nước phải có khu vực sinh hoạt riêng, không do chính quyền chi phối. Nếu chú ý đến khía cạnh chính trị và quyền lực, ta có thể dịch là "xã hội dân sự" với các định chế, tổ chức hay đoàn thể phi chính phủ và độc lập với nhà nước. Nếu chú ý đến quyền sinh hoạt của người dân, trong đó có cả quyền kinh tế, người ta có thể dịch là "xã hội dân sinh" và nhấn mạnh đến thẩm quyền của người dân trước hai thế lực kia là chính quyền và các doanh nghiệp. Dù có hiểu theo cách nào đi nữa thì người dân phải có một không gian và lãnh vực độc lập và có quyền tổ chức ra các cơ quan dân sự để phục vụ nhu cầu của mình. Đã chẳng công nhận và bảo vệ xã hội dân sự, mà họ gọi là "xã hội công dân", lãnh đạo Trung Quốc còn cấm bàn về hình thái sinh hoạt văn minh này. Họ trở về thời Thương Ưởng hơn hai ngàn năm trước.

Thứ tư là dân quyền.

Là khái niệm căn bản và đầu tiên được đưa vào bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Quốc tế từ năm 1948, dân quyền hay quyền của công dân là một bước tiến của nhân loại và nay tiếp tục được mở rộng. Từ quyền tự do và bình đẳng của người dân trước hệ thống quyền lực chính trị của nhà nước, khái niệm này mở sang các lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi sinh. Nó bành trướng ảnh hưởng lẫn thẩm quyền của con người để ngăn ngừa nạn độc tài và tinh thần kỳ thị vì bất kỳ một lý do nào. Phạm trù "dân quyền" là đề tài được thường xuyên tranh luận vì những biến thái thường trực của con người trong xã hội và của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Nhưng khi lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc cấm luận bàn về dân quyền thì kết quả đầu tiên là dân không có quyền.

Thứ năm là về những sai lầm của đảng trong lịch sử

Đảng Cộng sản Trung Quốc viện dẫn những thành tựu kinh tế và tinh thần của xứ sở để biện minh cho quyền lực độc tôn của mình. Nhưng trong thâm tâm, lãnh đạo của họ ý thức được nhiều sai lầm của đảng trong quá khứ. Thời Mao Trạch Đông, những đợt "Cải cách Ruộng đất" rồi "Chỉnh phong" đến "Bước Nhảy vọt Vĩ đại" qua cuộc "Đại văn cách", v.v... đã khiến mấy chục triệu người chết đói, đảng viên bị đấu, bị diệt và kinh tế lẫn xã hội bị khủng hoảng triền miên trong 30 năm hoang tưởng. Sau khi Đặng Tiểu Bình cải cách từ năm 1979, những sai lầm của đảng cũng gây nhiều thảm họa, nổi bật là vụ thảm sát Thiên an môn hôm mùng bốn Tháng Sáu năm 1989 khiến mấy ngàn người thiệt mạng. Gần đây hơn lại có những vụ tham nhũng tầy trời làm rung chuyển hệ thống quyền lực trên thượng tầng...

Nhưng không một ai được nhắc đến chuyện này và căn bản nhất, chẳng ai được phép nói đến phần tiêu cực của sự nghiệp Mao Trạch Đông. Tập Cận Bình còn nhắc nhở là nếu Mao cũng bị đả kích thì cả hệ thống xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc đã gặp số phận của Liên Xô!

Thứ sáu, không được nhắc đến mạng lưới thân tộc.

Trong một nền kinh tế thị trường nửa vời, tinh thần "một người làm quan cả họ được nhờ" dẫn đến chủ nghĩa tư bản thân tộc, crony capitalism. Đó là khi đặc quyền chính trị trong đảng có thể dẫn tới đặc quyền kinh tế cho gia đình hay tay chân của đảng viên. Điều lệ đảng không cho phép đảng viên ở cấp lãnh đạo được quyền kinh doanh, nhưng thân nhân và gia tộc thì tự do, và thực tế còn được bảo vệ.

Vì vậy, hệ thống kinh tế chính trị Trung Quốc mặc nhiên định chế hóa quy luật tư bản thân tộc và còn tạo cơ hội hình thành mạng lưới thân tộc rộng lớn vây quanh các tập đoàn kinh tế nhà nước. Con cháu các lãnh tụ đều là những đại gia chia vùng ngự trị và trưng thu. Trong số này, có ảnh hưởng và quyền lợi toả rộng là con cháu các đại công thần, được gọi là "Thái tử đảng". Có tư thế lớn nhất trong phe Thái tử đảng ngày nay chính là Tập Cận Bình, con trai của Tập Trung Huân, một lão đồng chí và đại công thần từ thời Mao. Hèn gì mà không ai được nhắc đến mạng lưới cấu kết này.

Thứ bảy là quyền tư pháp độc lập.

Xuất phát từ nguyên tắc tam quyền phân lập, quyền tư pháp độc lập là một nền tảng của dân chủ. Nó đòi hỏi một hạ tầng luật pháp bình đẳng, công khai minh bạch, do người dân và đại diện của mình góp phần lập ra và được thực thi bởi một hệ thống nhân sự độc lập về chính trị lẫn kinh tế. Toà án và các thẩm phán phải có quyền diễn giải và áp dụng luật lệ mà không bị đảng, nhà nước hay các thế lực kinh tế chi phối. Các quốc gia văn minh đều phát huy và củng cố quyền tư pháp độc lập và còn giải thích rộng rãi cho người dân biết được quyền hạn của mình qua nền tư pháp đó. Trung Quốc thì chưa, và còn cấm không cho nhân dân luận bàn về các tòa án nhân dân!

Sau khi thế hệ thứ năm lên cầm quyền, thế giới bên ngoài cứ như thày bói sờ voi mà dự đoán về tư tưởng hay chủ trương của lãnh đạo mới. Chỉ thị từ trung ương xuống về "thất bất giảng" là một sự khải thị bất khả tư nghị!

Nhìn từ giác độ của đảng Cộng sản Việt Nam, bảy điều cấm này cũng là chân lý sáng soi. Nhưng đảng ta còn nêu ra một điều thứ tám: "cấm không được phê phán Trung Quốc".

Quy luật "con hơn cha nhà có phúc" của bầy Thái thú nội hóa!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.