Hôm nay,  

Thất Bất Giảng

24/05/201300:00:00(Xem: 10842)
Bảy Điều Không Được Bàn Tại Trung Quốc – Và Tám Điều Cấm Tại Việt Nam

Văn phòng Biện Công Sảnh của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc vừa đưa ra một chỉ thị được lặng lẽ phổ biến cho các đại học.

Biện công sảnh (hay Bạn công thinh theo cách nói tại Trung Quốc) là bộ phận lo công việc thường vụ của bộ Chính trị và ban Chấp hành Trung ương, kể cả việc ban hành chỉ thị từ trung ương xuống các cấp bộ ở dưới. Chỉ thị ở đây có tên tắt là "Thất bất giảng", bảy điều không được bàn cãi giảng giải.

Sau khi được các đại học thông báo về sự cấm đoán này, các giáo sư mới than phiền, mà vẫn phải giấu tên để khỏi bị kỷ luật. Nhờ vậy mà từ đầu Tháng Năm vừa qua, thế giới bên ngoài mới được biết về tư tưởng và chủ trương của cấp lãnh đạo mới tại Trung Quốc, thế hệ thứ năm hay "Thế hệ Tập-Lý" của Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường.

Vì các trí thức Trung Quốc không được luận bàn - và học sinh sinh viên không được giảng dạy - về "bảy điều cấm", ta nên tìm hiểu xem lãnh đạo mới của Trung Quốc e ngại những gì.

Thứ nhất là các giá trị phổ cập trên hoàn vũ, "universal values".

Từ khi câu mở đầu của Jean Jacques Rousseau là "con người ta sinh ra ai cũng có tự do" trở thành tôn chỉ ghi trong hiến pháp của các nước, nhân loại đã tiến rất nhiều và chấp nhận những giá trị phổ cập. Đấy là loại quy ước có thể là bất thành văn hoặc viết thành luật theo đó con người ta phải có những quyền căn bản như tự do, dân chủ, quyền bình đẳng trong xã hội và cả quyền truy tìm hạnh phúc, thịnh vượng, v.v.... Trung ương đảng tại Bắc Kinh giăng tấm lưới khá rộng khi cấm thần dân bàn cãi về những giá trị phổ cập của thế giới văn minh. Lãnh tụ Tập Cận Bình và Ban Tuyên truyền Trung ương còn nói rõ hơn, rằng loại "giá trị phổ thế" này là một tư tưởng của Tây phương mà Trung Quốc phải canh chừng và đả phá.

Thứ hai là quyền tự do báo chí.

Các quốc gia văn minh nói đến nguyên tắc "tam quyền phân lập", là sự hiện hữu của ba cơ chế quyền lực độc lập và bình đẳng xuất phát từ người dân là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng họ còn nói đến "đệ tứ quyền" là cơ chế quyền lực thứ tư, đó là truyền thông báo chí. Quyền tự do báo giúp người dân thấy ra sự thật khách quan và có được thông tin cần thiết cho sinh hoạt thường nhật, từ kinh tế đến chính trị hay văn hóa. Dù đã duy trì chế độ kiểm soát tư tưởng và thông tin, với một Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương ngồi trong Bộ Chính trị, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn phải cấm bàn luận về tự do báo chí, cho nó chắc. Nhà nước vẫn giữ độc quyền chân lý và báo chí chỉ là con vẹt.

Thứ ba là "xã hội dân sự".

Khái niệm "civil society" là điều tương đối mới mẻ dù thực tế thì đã hiện hữu từ thời cổ, chuyện "phép vua thua lệ làng" là điều mà xã hội nào cũng có vì người dân một nước phải có khu vực sinh hoạt riêng, không do chính quyền chi phối. Nếu chú ý đến khía cạnh chính trị và quyền lực, ta có thể dịch là "xã hội dân sự" với các định chế, tổ chức hay đoàn thể phi chính phủ và độc lập với nhà nước. Nếu chú ý đến quyền sinh hoạt của người dân, trong đó có cả quyền kinh tế, người ta có thể dịch là "xã hội dân sinh" và nhấn mạnh đến thẩm quyền của người dân trước hai thế lực kia là chính quyền và các doanh nghiệp. Dù có hiểu theo cách nào đi nữa thì người dân phải có một không gian và lãnh vực độc lập và có quyền tổ chức ra các cơ quan dân sự để phục vụ nhu cầu của mình. Đã chẳng công nhận và bảo vệ xã hội dân sự, mà họ gọi là "xã hội công dân", lãnh đạo Trung Quốc còn cấm bàn về hình thái sinh hoạt văn minh này. Họ trở về thời Thương Ưởng hơn hai ngàn năm trước.

Thứ tư là dân quyền.

Là khái niệm căn bản và đầu tiên được đưa vào bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Quốc tế từ năm 1948, dân quyền hay quyền của công dân là một bước tiến của nhân loại và nay tiếp tục được mở rộng. Từ quyền tự do và bình đẳng của người dân trước hệ thống quyền lực chính trị của nhà nước, khái niệm này mở sang các lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi sinh. Nó bành trướng ảnh hưởng lẫn thẩm quyền của con người để ngăn ngừa nạn độc tài và tinh thần kỳ thị vì bất kỳ một lý do nào. Phạm trù "dân quyền" là đề tài được thường xuyên tranh luận vì những biến thái thường trực của con người trong xã hội và của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Nhưng khi lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc cấm luận bàn về dân quyền thì kết quả đầu tiên là dân không có quyền.

Thứ năm là về những sai lầm của đảng trong lịch sử

Đảng Cộng sản Trung Quốc viện dẫn những thành tựu kinh tế và tinh thần của xứ sở để biện minh cho quyền lực độc tôn của mình. Nhưng trong thâm tâm, lãnh đạo của họ ý thức được nhiều sai lầm của đảng trong quá khứ. Thời Mao Trạch Đông, những đợt "Cải cách Ruộng đất" rồi "Chỉnh phong" đến "Bước Nhảy vọt Vĩ đại" qua cuộc "Đại văn cách", v.v... đã khiến mấy chục triệu người chết đói, đảng viên bị đấu, bị diệt và kinh tế lẫn xã hội bị khủng hoảng triền miên trong 30 năm hoang tưởng. Sau khi Đặng Tiểu Bình cải cách từ năm 1979, những sai lầm của đảng cũng gây nhiều thảm họa, nổi bật là vụ thảm sát Thiên an môn hôm mùng bốn Tháng Sáu năm 1989 khiến mấy ngàn người thiệt mạng. Gần đây hơn lại có những vụ tham nhũng tầy trời làm rung chuyển hệ thống quyền lực trên thượng tầng...

Nhưng không một ai được nhắc đến chuyện này và căn bản nhất, chẳng ai được phép nói đến phần tiêu cực của sự nghiệp Mao Trạch Đông. Tập Cận Bình còn nhắc nhở là nếu Mao cũng bị đả kích thì cả hệ thống xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc đã gặp số phận của Liên Xô!

Thứ sáu, không được nhắc đến mạng lưới thân tộc.

Trong một nền kinh tế thị trường nửa vời, tinh thần "một người làm quan cả họ được nhờ" dẫn đến chủ nghĩa tư bản thân tộc, crony capitalism. Đó là khi đặc quyền chính trị trong đảng có thể dẫn tới đặc quyền kinh tế cho gia đình hay tay chân của đảng viên. Điều lệ đảng không cho phép đảng viên ở cấp lãnh đạo được quyền kinh doanh, nhưng thân nhân và gia tộc thì tự do, và thực tế còn được bảo vệ.

Vì vậy, hệ thống kinh tế chính trị Trung Quốc mặc nhiên định chế hóa quy luật tư bản thân tộc và còn tạo cơ hội hình thành mạng lưới thân tộc rộng lớn vây quanh các tập đoàn kinh tế nhà nước. Con cháu các lãnh tụ đều là những đại gia chia vùng ngự trị và trưng thu. Trong số này, có ảnh hưởng và quyền lợi toả rộng là con cháu các đại công thần, được gọi là "Thái tử đảng". Có tư thế lớn nhất trong phe Thái tử đảng ngày nay chính là Tập Cận Bình, con trai của Tập Trung Huân, một lão đồng chí và đại công thần từ thời Mao. Hèn gì mà không ai được nhắc đến mạng lưới cấu kết này.

Thứ bảy là quyền tư pháp độc lập.

Xuất phát từ nguyên tắc tam quyền phân lập, quyền tư pháp độc lập là một nền tảng của dân chủ. Nó đòi hỏi một hạ tầng luật pháp bình đẳng, công khai minh bạch, do người dân và đại diện của mình góp phần lập ra và được thực thi bởi một hệ thống nhân sự độc lập về chính trị lẫn kinh tế. Toà án và các thẩm phán phải có quyền diễn giải và áp dụng luật lệ mà không bị đảng, nhà nước hay các thế lực kinh tế chi phối. Các quốc gia văn minh đều phát huy và củng cố quyền tư pháp độc lập và còn giải thích rộng rãi cho người dân biết được quyền hạn của mình qua nền tư pháp đó. Trung Quốc thì chưa, và còn cấm không cho nhân dân luận bàn về các tòa án nhân dân!

Sau khi thế hệ thứ năm lên cầm quyền, thế giới bên ngoài cứ như thày bói sờ voi mà dự đoán về tư tưởng hay chủ trương của lãnh đạo mới. Chỉ thị từ trung ương xuống về "thất bất giảng" là một sự khải thị bất khả tư nghị!

Nhìn từ giác độ của đảng Cộng sản Việt Nam, bảy điều cấm này cũng là chân lý sáng soi. Nhưng đảng ta còn nêu ra một điều thứ tám: "cấm không được phê phán Trung Quốc".

Quy luật "con hơn cha nhà có phúc" của bầy Thái thú nội hóa!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong vài tháng qua, người dân Mỹ, dù muốn hay không muốn, cũng đã có nhiều cơ hội để nhìn về một bức tranh mà trong đó có quá nhiều sự tương phản. Những mảnh ghép từ hai tầm nhìn, hai chiến lược, hai mục đích hoàn toàn khác biệt đã dần dần rơi xuống, để lộ ra hai con đường hoàn toàn khác biệt cho người Mỹ lựa chọn. Dù có một bức màn đã rơi xuống (như nữ hoàng Oprah Winfrey đã ví von) cho một thuyền trưởng bước ra, trao lại cho người dân sự hy vọng, lòng tin, trách nhiệm, thì sâu thẳm bên trong chúng ta vẫn muốn biết, những giá trị thực của một triều đại đã mang lại. Từ đó, niềm tin sẽ được củng cố.
Bi hài kịch “ngoại giao cây tre”, với hoạt cảnh mới nhất là “cưỡng bức đặc xá”, đã giúp chúng ta nhận ra rằng, dẫu khác nhau nước lửa, “phóng sinh” và “hiến tế” vẫn có thể hội tụ ở ý nghĩa “triều cống” khi phải chiều lòng hai cường quốc ở hai đầu mút của hai hệ tư tưởng trái ngược nhau. Để đẹp lòng bên này thì phải nhẫn tâm “hiến tế”, mà để làm hài lòng bên kia thì phải diễn tuồng “phóng sinh” để có một dáng dấp khai phóng, cởi mở. “Chiến lược ngoại giao” này, phải chăng, là một trò chơi “ăn bù thua” mà, diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học của Game Theory, là có tổng bằng không?
Trận Điện Biên Phủ kết thúc vào hôm 7 tháng 5 năm 1954. Bẩy mươi năm đã qua nhưng dư âm chiến thắng, nghe chừng, vẫn còn âm vang khắp chốn. Tại một góc phố, ở Hà Nội, có bảng tên đường Điện Biên Phủ – cùng với đôi dòng chú thích đính kèm – ghi rõ nét tự hào và hãnh diện: “Tên địa danh thuộc tỉnh Lai Châu, nơi diễn ra trận đánh quyết liệt của quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm thực dân Pháp kéo dài 55 ngày đêm”.
JD Vance đã chứng tỏ một “đẳng cấp” khác, rất “Yale Law School” so với thương gia bán kinh thánh, giày vàng, đồng hồ vàng, Donald Trump. Rõ ràng, về phong cách, JD Vance đã tỏ ra lịch sự, tự tin – điều mà khi khởi đầu, Thống đốc Walz chưa làm được. Vance đã đạt đến “đỉnh” của mục tiêu ông ta muốn: lý trí, ôn hoà, tỉnh táo hơn Donald Trump. “Đẳng cấp” này đã làm cho Thống Đốc Tim Walz, người từng thẳng thắn tự nhận “không giỏi tranh luận” phải vài lần phải trợn mắt, bối rối trong 90 phút. Cho dù hầu như trong tất cả câu hỏi, ông đã làm rất tốt trong việc phản biện lại những lời nói dối của JD Vance, đặc biệt là câu chất vất hạ gục đối thủ ở phút cuối: “Trump đã thua trong cuộc bầu cử 2020 đúng không?” JD Vance đáp lại câu hỏi này của Tim Walz bằng hàng loạt câu trả lời né tránh và phủ nhận sự thật. Và dĩ nhiên, rất “slick.” “Trump đã chuyển giao quyền lực rất ôn hoà.” Cả thế giới có thể luận bàn về sự thật trong câu trả lời này.
Phải nhìn nhận rằng chuyến đi đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ đã được giới chức ngoại giao Việt Nam thu xếp để ông gặp được nhiều lãnh đạo, xem như xã giao ra mắt để hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lãnh vực trong tương lai. Bài diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc chỉ lặp lại các chính sách đối ngoại của Hà Nội, nên không được truyền thông quốc tế chú ý nhiều như các diễn văn của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, là đại diện cho những quốc gia trực tiếp liên can đến các xung đột ở Trung Đông, ở Ukraine mà có nguy cơ lan rộng ra thế giới. Ông Lâm mới lên làm chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Đảng Cộng sản được vài tháng, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời, nên ông muốn dịp đến Liên Hiệp Quốc là dịp để thể hiện vai trò lãnh đạo của mình và nhấn mạnh đến chính sách ngoại giao du dây của Hà Nội.
Sự bất mãn lan rộng với các hệ thống thuộc chủ nghĩa tư bản hiện tại đã khiến nhiều quốc gia, giàu và nghèo, tìm kiếm các mô hình kinh tế mới. Những người bảo vệ nguyên trạng tiếp tục coi Hoa Kỳ là một ngôi sao sáng, nền kinh tế của nước này vượt xa châu Âu và Nhật Bản, các thị trường tài chính của nước này vẫn chiếm ưu thế hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, công dân của nước này cũng bi quan như bất kỳ công dân nào ở phương Tây.
Sau 38 năm quyết định “đổi mới hay là chết” (1986-2924) CSVN vẫn còn là quốc gia do một đảng độc quyền lãnh đạo; không có bầu cử tự do; không cho lập đảng đối lập và không có báo chí tư nhân. Vì vậy, những khẩu hiệu “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, hay “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được Đại hội lần thứ X khẳng định là những khoe khoang nhàm chán...
Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.