Hôm nay,  

Mộc Tồn Cẩu Sự

26/06/201300:00:00(Xem: 7973)
Việt nam là nơi thị trường thịt chó và nhà hàng ăn thịt chó đang phát triển mạnh vậy mà hôm 15/06 vừa qua, tại Hà nội, các nhà chủ chó lập đàng cúng cơm cho chó và làm lễ cầu siêu cho chó vô cùng trọng thể, với thầy chùa chủ lễ trong tiếng chuông mõ trang nghiêm, không thua trai đàng cầu siêu cho con người. Kinh phí lên tới hàng tỉ đồng.

Nghĩa trang chó rộng hàng ngàn m2, với những ngôi mộ, những nơi giữ tro cốt, và lối đi lót đá hoa cương lộng lẫy, hương đăng hoa quả tươm tất. Ở đường Trương Định, Hà nội, có cả khách sạn 5 sao dành cho giai cấp chó đại gia. Trong lúc đó một thầy giáo ở Nghệ An, quê hương Hồ Chí Minh, bị dân chúng bề hội đồng mang trọng thương còn năm bịnh viện vì bị tình nghi trộm chó. Và một phụ nữ ngoại quốc suýt toi mạng vì tội đi điều tra “chó bị ăn thịt” cho tổ chức bảo vệ thú vật.

Chó vừa tạo ra thời sự nóng bỏng ở Thủ đô Hà nội không thua hiện tượng “Dân biểu bỏ phiếu tín nhiệm nhơn viên Chánh phủ”.

Cỏ May tuần này chọn nói chuyện về chó cho phù hợp với tình hình mới.

Quan điểm về chó

Chó là con vật có nhiều tên hơn Mèo tuy cả hai đều sống thân cận với gia chủ. Tên ở đây không phải là tên gọi do gia chủ đặt riêng cho nó mà đó là những cách gọi khác nhau chủ yếu chỉ nhằm tránh phải gọi “chó”. Người cựu học thâm nho thì gọi “mộc tồn” vừa cho có chữ nghĩa thánh hiền, vừa biểu lộ tính “cao quí” của một tầng lớp sinh vật. Phái tân học gọi “cầy tơ” chủ về nền văn minh phi vật thể ẩm thực của nhơn loại. Kẻ chủ trương hưởng lạc theo trường phái triết gia Épicure (Hy-lạp ở Athènes trước công nguyên) không ngần ngại quả quyết đó là “sống trên đời”. Đến thời kháng chiến chống pháp, Việt minh cộng sản lập thành tích “hạ cờ tây” để chào mừng bác đảng ! Nhơn dân đồng bằng xứ Nam kỳ nói một cách đơn giản, mộc mạc dừa khô, nhưng rất gần gủi vừa phảng phất mùi quốc lủi “Nai đồng quê”.

Cách gọi đã khác nhau thì khi đi vào thực tiển, chó cũng cho loài người nhiều món nổi tiếng khác nhau. Chó có tiếng sủa vang. Loài người khi luận về chó cũng lắm ý kiến, quan điểm khác nhau, chống đối nhau ỏm tỏi.

Người phương Tây yêu quí chó vì chó là người bạn trung thành, thông minh, luôn được nhắc tới với ngụ ý tốt. Nhưng chó, theo quan niệm phương Đông hay Việt Nam nói riêng, không phải trường hợp nào cũng gợi tới điều hay, ý tốt. Điều đó được thể hiện khá rõ trong kho tàng tục ngữ, ca dao. Bên cạnh những thành ngữ ca ngợi đức tính trung thành của con chó như “ nhứt khuyển nhì mã ” thì cũng có những thành ngữ, tục ngữ với hình ảnh con chó hàm ý không tốt đẹp như “chó dại cắn quàng” hay “giởn chó, chó liếm mặt”. Nếu nói rằng người Việt ta ai cũng yêu mến, quý trọng chó thì không hẳn đúng. Đến như người Mỹ, Pháp, Anh, Đức, …có tiếng là thương chó “Gia đình thường gồm có vợ chồng và con chó” mà vào mùa hè họ vẫn đem chó vứt bỏ ngoài đường để đi nghỉ hè. Hết hè, trở về lại tìm mua chó nuôi nữa.

Yêu chó, quý chó hay ghét chó, khinh chó. Đó là quan điểm riêng của mỗi người. Nói ai đúng, ai sai, đều là cách phản ứng chủ quan, nặng tinh thần phe cánh. Tranh cải nhau lại càng vô lý, vô duyên.

“Cẩu sự” là vậy. Còn “cẩu nhục” thì sao? Thịt chó đơn giản chỉ là một món ăn.

Trên thực tế sẽ không đơn gìản như vậy. Những người yêu chó, quý chó thì không nở ăn thịt chó. Chứ không vì minh là người văn minh, đầy tính nhân đạo. Còn người thích ăn thịt chó, thì bảo vệ quan điểm “sống trên đời không ăn thịt chó, mai kia xuống âm phủ, biết có hay không?”

Thịt cầy, lịch sử và đạo lý

Làm món thịt cầy (La cynophagie) là một bộ môn thuộc nghệ thuật làm bếp và văn hóa ẩm thực có từ xa xưa của nhiều xứ á châu như Việt nam, Tàu, Triều tiên, …và Phi châu. Riêng ở Nam dương, dân công giáo hưởng ứng nền văn minh ẩm thực này. Phần cón lại, đại đa số là dân hồi giáo thì kiên cử như kiên cử thịt heo.

Nhiều nước Âu châu phản đối ăn thịt cầy vừa bày tỏ sự ghê tởm. Vào cuối thế kỷ XX, luật pháp còn ngăn cấm nghiêm ngặt việc giết cầy làm thịt. Nhiều Hội bảo vệ thú vật ra đời. Ở Pháp có nữ minh tinh Brigitte Bardot làm Hội trưởng APA hoạt động tích cực. Bà di chuyển bằng phi cơ. Tới kỳ bầu cử Tổng thống, bà ủng hộ ai, người đó sẽ có nhiều may mắn đắc cử.

Nhưng ăn thịt cầy lại rất phổ biến vào thời cổ đại la-mã và ờ vài nơi khác. Thịt cầy hầu như chưa bao giờ thật sự vắng bóng ở Âu châu. Vào đầu thế kỷ qua, người ta còn thấy vài tiệm thịt cầy ở Pháp. Ở cuối thế kỷ XIX, ở Paris đầy rẩy tiệm thịt cầy. Và chợ bán chó họp chợ ngay trên đường Saint Honoré, một đường phố sang trọng ngày nay.

Người ta không ăn thịt cầy từ khi những con vật được phân loại “thú rừng”, “thú nhà” như heo, gà, vịt, … và “thú thân cận” như chó, mèo, …Tuy nhiên việc ăn thịt cầy dường như ngày nay vẫn còn duy trì trong chốn riêng tư. Như ở vài vùng quê hẻo lành ở Thụy sĩ. Trái lại, thịt cầy lại được ưu đải ở Tàu, Triều tiên, Việt nam. Ở Tàu, mỗi ngày có hơn 30 000 con chó bị làm thịt và mỗi năm có tới hơn 10 triệu con tẩm bổ cho các chú Ba Tàu khá giả. Ở đây có cả trại chăn nuôi chó thịt. Riêng ở Hồng kông thịt chó bị cấm. Vì ảnh hưởng nền văn minh anh quốc?

Vài tôn giáo ở Á châu như bà-la-môn, hồi giáo, cấm ăn thịt chó như thịt heo. Phật giáo ngăn cấm các thứ thịt do cấm sát sanh. Riêng các hệ phái thiên chúa giáo tỏ ra dễ dải với việc ăn hay không thịt cầy và các thứ động vật khác.

Những vùng địa lý ăn thịt cầy

Ở Âu châu.

Nhắc lại việc ăn thịt cầy ở Pháp. Dân Gô-loa ( Gaullois) ăn thịt cầy như các loại thịt khác. Tiệm bán thịt cầy ở Pháp chỉ mới đóng cửa vào cuối tiền bán thế kỷ XX. Ngày nay, dân pháp hải ngoại như dân Tahiti làm thịt cầy ăn mừng Quốc khánh.

Hồi Đệ I Thế chiến, thịt cầy ở Pháp hảy còn thạnh hành. Thi sĩ Guillaume Apollinaire vìết:

“Một vài người vừa từ giả chúng ta
Trước một cửa hàng thịt chó
Đã mua ở đây bửa ăn tối của họ, …”


Trong nhiều bài viết của những đại văn hào pháp như Victor Hugo, Gustave Flaubert, …người đọc thấy mô tả những bửa ăn gồm có món thịt cầy.

Ở Đức, tiệm thịt cầy sau cùng đóng cửa năm 1940. Dân Đức tiêu thụ thịt cầy cho tới Đệ II Thế chiến vì Chánh quyền Đức quốc xã, năm 1943, kiểm soát vệ sinh việc buôn bán thịt cầy.

Ở Thụy sĩ, luật cấm buôn bán thịt cầy nhưng luật không cấm ăn thịt cầy trong gia đình hay giửa bè bạn. Ngày nay, dân Thụy sĩ cực kỳ văn minh, vẫn còn ăn thịt cầy và cả thịt mèo. Đây là thực tế làm cho Thụy sĩ trở thành bạn đồng hội đồng thuyền với Tàu và Việt nam. Về cả hai mặt: mặt ẩm thực và mặt pháp lý. Ăn thịt cầy hay thịt mèo không có gì khác hơn thịt bò, thịt heo hay thịt gà. Vì thịt là thịt mà thôi. Một phụ nữ thụy sĩ giải thích “nếu ăn thịt cầy bị cấm, thì chúng tôi cũng phải bị cấm ăn các thứ thịt khác, như heo, gà, bò, …”.

Một anh hàng thịt thụy sĩ nói “Thịt cầy sấy khô, ăn, khó ai biết đó là thịt cầy. Nó ngon tuyệt vời. Nó là một thứ snack nhiều người ưa thích lúc giải lao”.

Ngày xưa, không ai cảm thấy khó chịu khi thấy trên bàn ăn dọn món thịt cầy. Nhưng ngày nay, thịt cầy xuất hiện trên bàn ăn chắc khó tránh khỏi bị nhiều người phản đối. Do bị ảnh hưởng các hội bảo vệ thú vật hay vì có nhiều thứ thịt khác nhau để chọn lựa?

Ở Á châu

Ở các nước như Tàu cộng sản, Tàu đài loan, Triều tiên, Việt nam, Phi-luật-tân, Lèo, Miến điện, …đều có truyền thống lâu đời ăn thịt cầy vì thịt cầy được xem như một thực phẩm giàu chất dinh dưởng, bổ thận, cường dương. Và chỉ dành riêng cho đàn ông vì nó còn chứa đặc tính kích thích mạnh.

Cùng ở Á châu nhưng Nhựt bổn lại không hưởng ứng món thịt cầy. Trong văn hóa nhựt bổn, con chó được quí trọng. Chỉ có nhà hàng đại hàn ở Nhựt có bán thịt cầy mà thôi.

Ở Việt nam, nhà hàng thịt cầy và cửa hàng thịt cầy tươi hoạt động mạnh. Hằng ngày, ở Long Bình phân phối đi các nơi cả mươi tấn cầy sống. Con buôn phải qua tận Thái lan, Cao miên, Lèo lùng thu mua cầy sống chở về cho thị trường Việt nam.

Ở Phi châu

Dân phi châu ở vài quốc gia ăn thịt cầy theo tập tục nghi lễ địa phương. Ở nơi khác, họ ăn thịt cầy như thịt heo, thịt gà.

Ở Burkina Faso, có nhiều nhóm dân ăn thịt cầy thường xuyên. Chợ bày bán thịt cầy cùng với thịt khác như heo, gà, bò, …

Không ăn thịt cầy, không phải người Việt nam

Trong tháng 4 vừa qua, xảy ra việc tranh cải chung quanh một dỉa thịt cầy: 1/ Tại sao người Việt nam ăn thịt cầy? 2/ Bạn (là người Việt nam) có ăn thịt cầy không?

Vì người âu châu ngày nay không còn mấy người ăn thịt cầy nữa nên câu hỏi đó đặt ra cho một người Việt nam, nhứt là người Việt nam đến từ Miền Bắc, không thể không hàm ý một biểu hiện kỳ thị.

Thật ra người Việt nam ăn thịt cầy nhưng không phải ăn bất kỳ loại cầy nào. Họ chỉ ăn loại cầy thịt, tức loại cầy có vóc dáng nhỏ. Được cầy hương là ngon tuyệt. Thông thường thì vàng hơn mực. Nhưng không có thì cầy nào cũng được. Còn hơn không ! Loại cầy to lớn của Âu châu, họ không ăn. Một phần vì thịt không ngon. Mặt khác, loại cầy này được nuôi để phục vụ đời sống con người nên chúng trở thành thân thiết và hữu ích. Như cầy đi săn, kéo xe, bảo vệ, chiến đấu, giử nhà, …

Về qưan hệ giửa con chó với người Âu châu, người Việt nam chúng ta có con trâu đi cày “Trâu ơi, ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta. Cấy cày vốn việc nông gia. Ta đây, trâu đó, ai mà quản công” nên người Việt nam kiên cử thịt trâu cũng giống như người âu châu kiên cử thịt cầy.

Nếu nói rằng người Việt nam có tập quán ăn thịt cầy ví xứ thiếu chăn nuôi nên thiếu thịt là điều không đúng. Họ ăn thịt cầy vì sở thích ẩm thực mà không vì thiếu thịt. Đổi cái đùi cầy lấy cái đùi heo, chưa chắc họ chịu đổi. Đó là điều làm cho thấy người viêt nam ăn thịt cầy khác với người pháp.

Dân ăn thịt cầy sành điệu thường phân biệt ”con chó với con má”. Theo sự phân biệt này, con chó là con vật khôn. Nó không bao giờ ăn thịt đồng loại. Còn con má là con vật ngu, gặp thịt là ăn, không biết phân biệt. Ăn thịt cầy là ăn thịt con má này. Nhưng khi ăn thịt cầy, có ai biết phân biệt không?

Ở Sài gòn sau 30/4, người dân thường chửi đổng, nhắm vào VC, những lúc bất mản “Nay là thời chó đẻ”. Nhưng bị sửa lại “Thời chó chết” mới đúng vì “chó đẻ” là chó còn sống được nên mới đẻ.

Giám mục Seitz phục vụ ở Việt nam, đặc biệt vùng Cao nguyên, ghi hồi ký gồm 93 trang, hai Phần. Ông bắt đầu ngày 7 tháng 4/1975 với tựa sách “ Thời chó câm” (Le Temps des chiens muets). Sau đó, ông bị trục xuất về Pháp và ông điều khiển một Chủng viện ở ngoại ô Paris, vùng Marne la Vallée, đem theo vài chủng sinh gốc Thượng. Trong số chủng sinh này, có người đậu Cử nhơn Triết ở Sorbonne hiện có vợ đầm, sanh sống ở Vendée, miền Tây-Bắc nước Pháp. Có ngưòi làm thợ Điện tử nhưng lúc nào cũng chờ để trở về xứ. Người sau cùng trở thành Linh mục và hiện phục vụ tại một giáo xứ của Paris XV.

Ai cũng biết cộng sản tới, chó không dám sủa. Không riêng gì chỉ có con người!

Nguyễn thị Cỏ May

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.