Hôm nay,  

Lạc Gót Sen Hương

03/07/201300:00:00(Xem: 5970)
Một sư huynh, mỗi lần có dịp giới thiệu tôi với người mới gặp, không hiểu sao thầy thường vui đùa, bắt đầu bằng một tràng mỹ từ: “Đây là văn sỹ, thi sỹ, ca sỹ, chiến sỹ …”

Theo tôi, tùy môi trường và hoàn cảnh, muôn người muôn loài đều thường xuyên từng là những mỹ từ này.

Văn sỹ là gì? Là chia sẻ, là trải lòng mình với người. Thì ai chả có lúc làm điều đó. Thi sỹ là gì? Là khi cảm xúc thật đầy, ngôn ngữ sẽ trở thành vần điều. Thì tất cả những bà mẹ ru con đều chẳng là thi sỹ ư? Ca sỹ là gì? Cũng khi cảm xúc đầy, ngôn ngữ là âm thanh trầm bổng. Thì ngàn chim trời nào chẳng là ca sỹ? Chiến sỹ là gì? Là kẻ luôn phải tranh đấu để bảo vệ và đạt được lý tưởng mình đặt ra. Thì ai chẳng phải là chiến sỹ chiến đấu với chính mình trước cái tâm-viên-ý-mã ít khi chịu dừng vọng tưởng.

Hình như chỉ một thứ “Sỹ”, thầy quên đề cập tới. Đó là Họa Sỹ.

Họa sỹ này, như tôi từng được nghe giảng đôi lần, thì đó chính là Cái Tâm. Đúng vậy, tâm là họa sỹ vẽ ra mọi cảnh giới. Và cảnh giới tâm vẽ ra đó, cũng sẽ là hạnh phúc hoặc khổ đau. Nghe ra, cái tâm có vẻ khờ khạo, bất nhất vì nếu đã là họa sỹ, vẽ những điều mình muốn, sao tâm không chỉ vẽ những gì hạnh phúc? Vẽ chi đau khổ để rồi khổ đau? Có ai thử trắc nghiệm khả năng hội họa của mình để tìm xem do đâu tâm ta được toàn quyền tự do họa cảnh cho chính mình mà lại cứ đời này sang đời khác, tạo mãi những khổ nhiều hơn vui?

Đã quá thất thập cổ lai hy, tôi vừa bất ngờ “sang trang” cho phần cuối đời mình. Bước ngoặc này làm hầu hết thân nhân, bạn bè sửng sốt. Hình như, cả chính tôi cũng đã mở to mắt nhìn mình!

Bẩy mươi hai tuổi, đang ngụ trong một cái thất xinh xắn, an ninh, gần chùa, gần huynh đệ, gần bằng hữu thân thương giữa một đô thị “muốn gì cũng có”, tôi đã buông bỏ tất cả!

Chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần lễ, tôi quyết định buông bỏ tất cả để sẽ dời lên ngôi chùa hoang vu trên ngọn ngồi hiu quạnh thuộc thị trấn cách nơi tôi đang cư ngụ tới gần ba ngàn dặm!

Tôi lên đó với ai? Làm gì?

Ồ, không ai cả! Chỉ một mình! Thực sự một mình giữa đồi thông, rừng trúc, đồng cỏ mênh mông. Hàng xóm gần nhất là cặp vợ chồng già, người da đỏ, cũng cách chùa hơn nửa dặm!

Một bạn đạo, thương tôi hết lòng, vừa nức nở khóc, vừa nài nỉ; “Đừng! Đừng! Sư cô ơi! Phải suy nghĩ cho kỹ đã! Lớn tuổi rồi, làm sao chịu nổi sự quạnh hiu và khí hậu nghiệt ngã phương ấy? Lại còn chưa kể tới an nguy, lỡ đêm hôm xảy ra điều gì, cầu cứu ai cho thấu!”

Rồi bạn cứ nắm chặt tay, không buông, dù tôi chỉ mới ngỏ ý, nào đã đi đâu! Ý định này, tôi giới hạn lắm, chỉ rất ít ngưồi thân biết thôi. Phản ứng cực kỳ hốt hoảng của bạn lại càng khiến tôi phải giới hạn hơn. Thế nên, ngày ra đi, tôi đã lặng lẽ nhờ một Phật tử đưa ra phi trường, trong khi các huynh đệ, bằng hữu đều tưởng tôi chỉ mới dự tính thôi!

Nếu tôi không lầm thì suốt gần bẩy mươi hai năm có mặt trên cõi đời này, tôi chưa từng sống một mình. Nhỏ thì có cha mẹ, anh em; lớn thì có bạn bè; xuất gia thì có thầy trò, huynh đệ. Sau khi xuất gia, tôi ở thất riêng, ba ngày cuối tuần về chùa cùng tu tập, hoặc những ngày khác, khi có Phật sự mà huynh đệ gọi thì cũng có mặt. Dù ở thất riêng nhưng chưa phải là một mình, vì sát vách là hàng xóm, ngay ngoài cửa thất là những xôn xao mời gọi, khởi tâm muốn gì là có nấy khi lúc nào xăng cũng đầy bình, túi cũng rủng rỉnh đôi đồng tiền hưu trí. Những ngày cuối tuần, về chùa cùng tu với đại chúng thì nào có mệt nhọc chi, mà sau mỗi thời khóa, tiểu thực, dược thực đã bày dọn ê hề!

Một đôi lần, sau khi từ chùa về thất, lạy Phật rồi tĩnh tọa, tôi đã giật mình tự hỏi: “Ta đi tu để làm gì đây? Tu giải đãi, tu để hưởng thụ thế này ư? Nếu ngày qua ngày chỉ có thế, thì bội bạc ơn Chư Phật quá! Nếu chỉ có thế, Chư Phật nào muốn ta cạo đầu, khoác áo Như Lai? Nếu chỉ có thế, ta chỉ muôn đời là kẻ cùng tử lang thang đói rách trong khi gia tài của cha, thực đã sẵn trong tay!”

Với những vị tu vững, tu giỏi thì bao phương tiện quá đầy đủ này chẳng ảnh hưởng chi. Nhưng kẻ tu non, tu dở như tôi thì cảnh có thể làm hỏng tâm!

Những đêm ngồi thiền lặng lẽ trong bóng tối, bao câu tự hỏi cứ lập đi lập lại như điệp khúc của một trường ca bất tận.

Cứ thế.

Rồi bất ngờ, giọt nước làm tràn ly là sự ra đi đột ngột của người anh, một cư sỹ bỏ bao tâm huyết tạo dựng ngôi chùa trên đồi nhưng vì là nơi hoang vu vắng vẻ, đã không đáp ứng được những nhu cầu thế gian. Bao năm, người anh quẩn quanh, mỗi cuối tuần, từ nhà con cháu ở dưới phố, lái xe lên chùa để lau bàn Phật, thắp nhang, cắt cỏ … Trước khi mất khoảng hai tuần, anh gọi tôi, khoe: “Sư cô ơi, tôi thuộc Chú Đại Bi rồi! Tôi vừa cắt cỏ, vừa niệm Chú Đại Bi, có được không?”

Giọt nước tràn ly này bỗng trả lời cho bao câu hỏi trong nhiều đêm thiền tọa. Và điệp khúc của bản trường ca bỗng chuyển từ những dấu hỏi, thành lời thúc giục lên đường: “Hãy đi! Hãy đi! Hãy đi thôi! Hãy buông hết mà đi! Hãy gõ, thì cửa sẽ mở! Phải thực sự gõ thì cửa mới mở!”

Điệp khúc hùng tráng này nao nức lòng tôi khi được sự yểm trợ của vị sư huynh tôi yêu kính. Có tình cờ không, khi thầy cũng bất ngờ chấp nhận lời thỉnh cầu của một số Phật tử miền đông bắc Hoa Kỳ, về nơi đó lập chùa cho họ có nơi nương tựa. Ngôi chùa tương lai của thầy cách ngôi chùa hoang vu trên đỉnh đồi, nơi tôi sẽ về, chỉ khoảng bẩy trăm dặm.


Bẩy trăm dặm, mười tiếng lái xe, so với non ba ngàn dặm thì quả là “Tuy xa mà gần, tuy gần mà xa”. Thầy sẽ có thể thỉnh thoảng qua thăm.

Tôi lên đường với một lời cầu xin duy nhất: “Xin Đức Đại Từ Đại Bi Quán Thế m Bồ Tát xót thương, ban cho con Hạnh-Vô-Úy. Xin che chở con. Xin cho con đừng sợ hãi giữa chốn hoang vu để con có thể bình an phụng sự Tam Bảo, báo đáp ơn Chư Phật. Con phải tự độ, mới mong có cơ duyên độ tha. Cuộc đời của cây nến chỉ thực sự có ý nghĩa khi ngọn lửa được thắp lên thân nó và cháy rụi cho đến lụn tàn.”

Đêm đầu tiên, tôi bật đèn hào quang trên chánh điện, rồi theo con dốc thoai thoải xuống nơi ngủ nghỉ, bật dăm ngọn đèn ngoài hàng hiên trước khi vào phòng, cẩn thận khóa chốt cửa.

Cái thất vừa bỏ lại, được tôi đặt tên là Tào-Khê tịnh thất, vì có dòng suối nhân tạo rất thơ mộng, luôn róc rách ngày đêm. Còn nơi này sẽ gọi là gì đây? A!, tên nơi này sẽ không do cảnh, mà do hoàn cảnh. Tôi từng dời đổi nơi cư ngụ khá nhiều, từ Độc Cư Am, Như Thị Am, Cốc Thảnh Thơi, Pháp Lạc Thất ..v…v.. khác chi chim trời không ngừng di chuyển.

Vậy thôi, nơi này sẽ là Thiên Di Am nhé!

Đêm đầu, trong Thiên Di Am, tôi tọa thiền thật lâu, có lẽ là rất lâu, bởi tôi có cảm tưởng như từ nay mình bỗng có thêm rất nhiều thời giờ. Ngoài nửa ngày, từ sáng sớm đến giờ ngọ tu trì trên chánh điện, tôi còn tha hồ thời giờ. Không xe cộ nên chẳng đi đâu, không thân quen nên chẳng gặp gỡ, cư trần lạc đạo, cứ đói ăn, khát uống, mệt ngủ thôi.

Tọa thiền tới mệt, tôi xả thiền, vào giường. Trước khi nhắm mắt, tôi nệm Đức Quán Thế m, lại chỉ xin một điều duy nhất “Xin ban cho con Hạnh-Vô-Úy.”

Và giấc ngủ đầu tiên ở nơi hoang vắng, êm đềm tới mức khi chim rừng đánh thức dậy, tôi đã muốn cất tiếng hát:

Đêm qua mộng lại thật gần,
Đừng lay tôi nhé, hồng trần mong manh

Tôi cảm nhận rõ, lời cầu xin đã được đáp ứng. Sáng hôm đó, tôi đắp y, ra hồ sen, quỳ trước tôn tượng Quán Thế Ấm, tạ ơn Bồ Tát. Quả thật, ánh mắt từ bi của Bồ Tát không bỏ sót một chúng sanh nào chí tâm cầu khẩn Ngài. Giữa trời mây bao la, cùng rừng núi mênh mông thanh tịnh, một sinh linh nhỏ bé quỳ trước Bồ Tát đã khóc như chưa bao giờ được khóc. Những gịot lệ tạ ơn tầm tã rơi xuống hồ, đọng trên lá sen, tưởng như không hạt kim cương nào trên thế gian đẹp bằng!

Thế nhân ơi! Có phải thông điệp tôi vừa nhận được là “ Chúng ta chỉ nhìn rõ nhau khi nhìn bằng trái tim. Ta sẽ không thể hiểu nhau, không thể thương nhau nếu ta chỉ nhìn nhau bằng hai con mắt.”

Tất cả nhân loại, muôn người muôn loài, mỗi động niệm, dù nhỏ nhoi cũng là vừa tạo nên nét chấm phá trong bức tranh tự họa. Tâm đang nghĩ gì, muốn gì, thì mầu sắc và cảnh trí hiện ngay ra bức họa như thế. Muốn gặp ai là thấy liền bóng hình người đó, muốn đến nơi nào là chân chưa bước đã thấy ngay cảnh trí nơi đó. Trăm ý khởi là trăm cảnh hiện. Trăm cảnh hiện là trăm thôi thúc. Cái tâm họa sỹ vẽ không ngừng nên sự thôi thúc cũng không ngừng. Tâm an lành thì thôi thúc tìm sự an lành. Tâm loạn động thì thôi thúc tìm sự loạn động.

Khi Ngài Pháp Tạng Bồ Tát phát 48 lời đại nguyện, tâm Ngài đã vẽ ra cõi Tịnh Độ phương Tây. Khi Ngài Địa Tạng Bồ Tát phát lời nguyện “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật” thì tâm họa sỹ của Ngài đã vẽ ra muôn cảnh địa ngục. Hai bức tranh đó đối chiếu nhau là lời khuyến tấn và cảnh báo đầy từ bi của Chư Phật, Chư Bồ Tát. Chúng sanh phải tận dụng sự tinh cần và trí tuệ mới tránh được địa ngục mà về nơi an lành.

Dù muốn hay không, mầu sắc và bút cọ luôn sẵn trong tâm mỗi người. Nếu cái tâm họa sỹ đừng vội vã khoa tay múa bút, đừng vội pha mầu chát chúa tối tăm, mà hãy ngồi yên - dăm sát na thôi - với ba hơi thở sâu, thở nhẹ nhàng thư thái, rồi thầm thì rằng “Ta không làm cho người, những gì ta không muốn người làm cho ta”. Chỉ cần thế thôi, bức tranh sẽ hiện ra với những nét chấm phá thanh tao, hỷ lạc.

Tôi đang nương lời dạy.
Bức tranh huyền ảo ánh trăng khuya giữa bầu trời đầy sao bỗng hiện hai đốm sáng nơi bìa rừng trúc.
Bước chân dạo hồ sen dừng lại.
Hai đốn sáng lung linh cũng chợt dừng lại.
Bốn mắt nhìn nhau.
Và chúng tôi cùng nhận ra nhau.
Con nai rừng ngơ ngác và bà sư già quờ quạng.

Tôi thở một hơi thật sâu, thật nhẹ, rồi lên tiếng trước:

- Chào em.

Lời chào chưa được đáp lại, nhưng chân nai không nhúc nhích. Dấu hiệu đó đủ tốt để khích lệ tôi lên tiếng tiếp:

- Chào em. Thế nào chúng ta cũng có biết nhau rồi mà! Từ vô lượng kiếp, từ vạn luân hồi, thế nào chả có kiếp chúng ta từng biết nhau. Đến đây! Đến gần đây đi!

Bấy giờ thì chân nai nhúc nhúc. Bốn mắt vẫn không rời nhau. Nai chậm rãi ra khỏi rừng trúc. Ôi! Tôi nghe lòng mình thổn thức biết bao!

Nhưng chỉ dăm bước ngắn, nai quay lưng, trở vào rừng!
Tôi đứng dưới trăng khuya, một mình.
Đó là đêm thứ ba, ở ngôi chùa trên đồi.
Ngước nhìn tôn tượng Quán m cao vòi vọi giữa trăng sao, tôi lại tạ ơn Ngài đã cho tôi sự bình tĩnh mà chính tôi chẳng thể ngờ.
Làm sao có thể tưởng tượng nổi cảnh này nếu tôi không dời phố thị và không được Đức Quán m che chở?
Đi,
Về,
Chỉ một cõi
Lặng lẽ ánh trăng thu
Tử sinh vừa tròn kiếp
Càn khôn, giấc mộng du…


Huệ Trân
Thiên Di Am, Chùa Chánh Pháp
Bedford, Kentucky
Hạ tuần tháng sáu, 2013

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kể từ khi Donald Trump tái đắc cử Tổng thống, giới sáng lập và đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao tại Thung lũng Silicon – gồm các tỷ phú như Elon Musk, Jeff Bezos và Mark Zuckerberg – đã được xem là những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng đối với chính quyền mới. Họ xuất hiện trong lễ nhậm chức của Trump và nhanh chóng đóng vai trò chính trong việc định hình các chính sách "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại". Với niềm tin mãnh liệt vào tiềm năng của công nghệ hiện đại, những nhà lãnh đạo này tin rằng họ có thể vận hành nó trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường tự do. Họ cổ súy cho sự phát triển không giới hạn của một hình thái tư bản tự do tuyệt đối và công nghệ có thể giải quyết hầu hết các vấn đề xã hội và quốc gia. Trong tầm nhìn của các cá nhân tiên phong công nghệ, họ muốn có vai trò lãnh đạo trong việc xóa bỏ các thủ tục hành chính phức tạp của nhà nước phúc lợi. Đó là hai điều kiện tiên quyết để tăng tốc cho các tiến bộ xã hội,
Ba giờ sáng của một ngày giữa Tháng Tư, cả hệ thống điện và điện thoại trong trại giam Adelanto Detention Center (California) đồng loạt bị ngắt. Bóng tối phủ trùm khắp các khu vực. Nhân viên trại giam đi từng khu vực, gõ cửa từng phòng, gọi tên “những người được chọn.” Mỗi phòng một, hoặc hai người bị gọi tên. “Thu xếp đồ đạc của các anh” – lệnh được truyền đi vắn tắt, không giải thích. Ông X. Nguyễn, cư dân của Santa Ana, đến Mỹ từ năm 1990, là một trong những người bị đánh thức được lệnh phải thu dọn đồ đạc.Cùng với những người khác - không ai biết ai vì tất cả đèn đã tắt, trong bóng tối họ bị áp tải ra khỏi trại giam trong tình trạng tay bị còng, chân bị xích. Chỉ đến khi bước vào chiếc xe bít bùng, họ mới nhận ra nhau qua cùng tiếng Mẹ đẻ, mới biết mình không đơn độc – mà cùng những người khác cùng ngôn ngữ, cùng cố hương, cùng một chuyến đi không có ngày trở lại. “Họ đưa anh tôi và những người trên xe đến tòa nhà INS (Immigration and Naturalization Service) ở Los Angeles.
Chuyện đời của Tổng thống Donald Trump như một cuốn sách, không phải tự truyện, không phải tiểu sử, là một trường thiên tiểu thuyết đang viết vào chương cuối cùng. Đã gọi là tiểu thuyết, nghĩa là không thật như đời thường, có nhiều diễn biến ly kỳ, bí mật và những âm thầm giấu giếm bên trong. Nhân vật chính là một người có đời sống phóng đảng từ trẻ đến già. Con nhà giàu, đẹp trai, học không giỏi. Bảy mươi mấy năm sống có thể gôm vào sáu chữ: Ham gái. Ham danh. Ham tiền. Ông không có khả năng gì đặc biệt, ngoài trừ khả năng bạo phổi, quen thói tỷ phú quyền lực, ít học, kém tư cách, ông muốn nói gì thì nói, muốn tuyên bố gì thì tuyên bố, bất kể đúng sai, bất kể hậu quả. Việc này khiến ông nổi bật giữa những kiểu mẫu đứng đắn, đạo hạnh, tử tế, trí thức của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ dọc theo lịch sử. Sự phá vỡ tư cách lãnh đạo theo truyền thống, lạ lùng, được một số đông cử tri ủng hộ.
Tôi có một đứa cháu gái. Mỗi sáng, cháu ngồi trên bậc thềm, chăm chỉ buộc dây giày. Mỗi bên phải đều nhau, mỗi nút thắt phải đúng thứ tự. Nếu lỡ tay thắt ngược, cháu sẽ gỡ ra và làm lại từ đầu – đôi khi ba, bốn lần. Cháu sẽ nhất định không chịu đi học cho đến khi nào giây thắt thật ngay ngắn. Cháu thuộc dạng trẻ em tự kỷ – một khác biệt mà người ngoài mới nhìn vào khó thấy. Và để được hỗ trợ trong lớp học, con bé phải làm điều mà cả hệ thống ép nó làm: thi IQ. Nếu điểm thấp quá, cháu bị đưa ra khỏi lớp chính. Nếu điểm “không thấp đủ,” cháu lại không được hỗ trợ vì không đạt tiêu chuẩn “khuyết tật.” Cùng một con số, khi là tấm thẻ vào cửa, khi là án lệnh đuổi ra khỏi cửa. Và chẳng ai thấy việc này có gì sai. Tất cả đều hợp lệ. Tất cả đều dựa vào một niềm tin: con người có thể đo được bằng ba con số.
Trong tháng 7 năm 2025, Thượng Viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu gần như hoàn toàn theo đường lối đảng phái để hủy bỏ khoản ngân sách trị giá 1.1 tỷ MK đã được chuẩn thuận cấp cho Tập Đoàn Phát Thanh Truyền Hình Công Cộng (Corporation for Public Broadcasting, CPB). Những người ủng hộ quyết định này cho rằng đây là hành động cần thiết để ngừng tài trợ cho “cánh truyền thông thiên tả.” “Phát thanh truyền hình công cộng đã rơi vào tay các nhà hoạt động đảng phái từ lâu rồi,” TNS Ted Cruz (Texas) tuyên bố, khẳng định chính phủ không cần thiết phải tài trợ cho các cơ quan báo chí “thiếu công tâm.” Ông châm biếm: “Muốn xem tuyên truyền của phe cấp tiến hả, cứ bật MSNBC đi.”
Tổng thống Donald Trump đã cố gắng áp đặt Hoa Kỳ lên thế giới và tách đất nước ra khỏi thế giới. Ông bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai bằng cách vung vũ lực cứng của Mỹ, đe dọa Đan Mạch về quyền kiểm soát Greenland, và đề nghị sẽ giành lại kênh đào Panama. Ông đã sử dụng thành công các mối đe dọa về thuế quan trừng phạt để ép buộc Canada, Colombia và Mexico về các vấn đề nhập cư. Ông đã rút khỏi các hiệp định khí hậu Paris và Tổ chức Y tế Thế giới. Vào tháng 4, ông đã khiến thị trường toàn cầu rơi vào hỗn loạn bằng cách công bố thuế quan sâu rộng đối với các quốc gia trên toàn thế giới. Không lâu sau đó, ông đã thay đổi chiến thuật bằng cách rút lại hầu hết các mức thuế bổ sung, mặc dù vẫn tiếp tục gây sức ép cho một cuộc thương chiến với Trung Quốc – mặt trận chủ yếu trong cuộc tấn công hiện nay để chống lại đối thủ chính của Washington...
Tài liệu ghi chép lịch sử Tòa Bạch Ốc cho biết, khi nhân viên dưới thời chính quyền của Woodrow Wilson chuẩn bị dời vị trí của Vườn Hồng, họ nhìn thấy hồn ma của cố Đệ Nhất Phu Nhân Dolley Madison, phu nhân của cố Tổng thống đời thứ tư của Mỹ James Madison. Thế là, để “xoa dịu” bà Madison, họ quyết định không di dời nữa và Vườn Hồng ở nơi đó cho đến tận bây giờ. Ông Jeremiah Jerry Smith làm việc trong Toà Bạch Ốc dưới thời của chính quyền Tổng Thống Ulysses S. Grant vào cuối những năm 1860. Trong suốt 35 năm, ông là một người hầu, quản gia, đầu bếp, gác cửa, dọn dẹp văn phòng. Smith là người được các ký giả, người viết sách tìm đến khi họ muốn biết về tin tức hoặc chuyện hậu cung. Theo tài liệu lịch sử của White House, ông Smith nói từng nhìn thấy hồn ma của Lincoln, Grant, McKinley và một số đệ nhất phu nhân từ năm 1901 đến 1904.
Trong nhóm bạn bè khá thân, chúng tôi có một cặp bạn - anh chồng là người tốt bụng, dễ mến; anh yêu vợ, nhưng lại có tình ý với một người khác. Khi bạn bè nhắc, anh luôn trả lời chắc nịch: “Vợ tôi đơn giản lắm, bả ấy chẳng để ý, cũng chẳng hay biết gì đâu.”Cô vợ cũng là bạn tôi, một người hiền lành, tử tế. Khi nghe tiếng gần tiếng xa, bạn chỉ cười nhẹ nhàng: “Mình chẳng muốn biết, biết chi cho mệt, cứ nhắm mắt, rồi mọi chuyện cũng qua thôi.”
Thế giới vừa điên đảo vì Trump 2.0 lại phải lo đối phó với Trung Quốc 2.0. Trung Quốc 1.0 là công xưởng quốc tế dựa vào giá nhân công rẻ và giá trị gia tăng thấp để sản xuất các hàng hóa tiêu dùng trong dạng Bộ Ba Cũ: (1) quần áo, đồ chơi trẻ em…; (2) vật dụng trong nhà như bàn ghế, tivi, tủ lạnh…(3) đồ điện tử gồm điện thoại cầm tay, máy điện toán,…) Trung Quốc 1.0 kéo dài 25 năm bắt đầu từ lúc Đổi Mới thập niên 1990 cho đến giữa thập niên 2010...
Giữa lúc các cơ quan báo chí, các tập đoàn truyền thông lớn khác chọn “sự trung lập” và cố gắng “nương tay” với các chính trị gia và chính quyền, thì Stephen Colbert chọn sự trung thực, kiên định, xem tuyên ngôn “trung lập” theo lý thuyết báo chí là vở kịch hài không hợp thời cuộc. Ông châm biếm, chỉ trích không thương tiếc những quyết định vi hiến, những phát ngôn dối trá của chủ nhân Tòa Bạch Ốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.