Hôm nay,  

Giấc Mơ Việt Nam

06/09/201300:00:00(Xem: 11087)
Nhạc sĩ Trần Tiến có một bài nhạc viết về đời sống của dân tộc Raglai và cây đàn chapi rất dễ thương. Ông bảo ở cái miền đồi núi ấy không có mùa đông, không có nắng mưa, chỉ có một mùa yêu nhau. Ở nơi ấy có đàn dê trắng nhởn nhơ, có mái nhà sàn, dù ai nghèo lắm cũng có cây đàn chapi. Và ai yêu tự do, yêu rừng xanh thì lên núi mà nghe người Raglai gảy đàn. Nhạc sĩ Trần Tiến gọi tên ca khúc này là “Giấc mơ chapi”.

Ai nghe bài hát này mà không muốn được sống như người Raglai, không muốn được mơ giấc mơ chapi !? Có lẽ cuộc đời thường không như là mộng, nên con người ngủ thường hay nằm mơ và hay kể về giấc mơ của mình. Tuy nhiên, các khoa học gia lại bảo động vật cũng nằm mơ và đặc biệt là loài chim cũng ngủ mơ. Có những giấc mơ của con người đã làm biến đổi cả lịch sử thế giới, như giấc mơ của Hán Minh Đế đã giúp Phật giáo được truyền vào Trung Quốc. Và Hoàng đế Constantinus I Đại Đế đã giúp cho Ki-tô giáo được phát triển ở La Mã cũng chỉ sau một giấc mơ.

Nhưng đó là giấc mơ của những vị Đại đế đầy quyền năng, đối với người bình thường, thực hiện giấc mơ của riêng mình còn dễ đạt được, thực hiện giấc mơ cho tha nhân thường có cái giá không nhỏ. Ngày 28 tháng 8 vừa qua, Tổng thống Obama và dân Mỹ đã làm lễ tưởng niệm 50 năm ngày mục sư Martin Luther King đọc bài diễn văn bất hủ “Tôi có một giấc mơ”. Bài diễn văn lịch sử này đã trở thành động lực cho sự ra đời của nhiều điều luật nhân quyền sau này.

Hôm đó đúng vào ngày 28/8/63 giữa một đám đông gồm 250 ngàn người đổ về từ khắp nơi, Martin Luther King đã đọc lời diễn từ: “Rồi có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại cùng nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ. rồi có một ngày vùng đất hoang mạc Mississippi, bức bối vì hơi nóng của bất công và áp bức, sẽ chuyển mình để trở thành ốc đảo của tự do và công bằng. Tôi đã mơ giấc mơ này…”

Lúc đó Martin Luther King còn rất trẻ, ông bị ám sát vào ngày 4/4/68 khi đang đứng trên ban công của một khách sạn để chuẩn bị dẫn đầu một cuộc tuần hành. Ông bị bắn vào hàm, và một người bạn của ông có mặt lúc ấy đã thuật lại rằng, ông đã nói lời sau cùng với nhạc sĩ Ben Branch người được sắp xếp có màn trình diễn vào đêm hôm ấy: “Này Ben, hãy hứa với tôi là đêm nay anh sẽ chơi bài Take My Hand, Precios Lord và phải chơi thật hay.”

Câu chuyện của vị mục sư trẻ vào những giây phút cuối đời và lời bài hát này làm tôi nhớ đến câu chuyện của cô bé gái 17 tuổi và người anh lớn vô tình cô được quen biết. Bài hát có những câu tôi nhớ loáng thoáng: khi bóng tối xuất hiện và đêm đến gần, khi ngày đã ra đi, đã trở thành quá khứ, hãy nắm lấy tay tôi, hãy hướng dẫn bàn chân tôi.

Cô bé đó tên là Yến và người anh lớn của cô là anh Lê Quốc Quân một chiến hữu của anh Trần Văn Bá. Khi cộng sản chiếm miền Nam, Yến đang là học sinh trường Gia Long. Cha và các anh trai của cô đều bị đi "tù cải tạo". Yến rất buồn, những giờ học chính trị của lớp, Yến chán nản thường hay trốn ra ngoài ngồi nhìn qua sân tennis. Ở đây cô được gặp anh Lê Quốc Quân, như một người anh, anh đã an ủi và hướng dẫn tinh thần cô. Đến bây giờ cô vẫn nhớ mãi câu nói của anh: “Em đừng lo, lúc này nước đang ở trong chai thì nó phải mang hình chai, rồi có lúc nước sẽ trở thành đại dương.” Ngày anh bị xử bắn cùng anh Trần Văn Bá, cô đạp xe vòng quanh thành phố trong mưa và mặc cho nước mắt rơi. Giờ đây, cô bé 17 tuổi vẫn mang theo giấc mơ của người anh lớn ngày nào, và cô hoạt động tích cực trong những công tác của cộng đồng.


Những giấc mơ lớn luôn cần sự góp tay của rất nhiều người. Hoa Kỳ là một quốc gia đi đầu về những giá trị về tự do và nhân quyền. Nhưng để có được những giá trị đó ngày hôm nay, đã có rất nhiều người Mỹ chịu hy sinh cho những giá trị cao quý đó. Đến nỗi nhà thơ Allen Ginsberg đã phải kêu lên: “Nước Mỹ, tại sao tự do của ngươi lại tràn đầy nước mắt!”

Cũng đúng vào cái ngày mục sư Martin Luther King đọc bài diễn văn “Tôi có một giấc mơ”, hai mươi bốn năm sau, ngày 28/08/87 đã có những người con Việt Nam âm thầm ngã xuống cho tự do của quê hương họ. Nơi những người Kháng chiến quân này nằm lại chỉ còn cách biên giới đất mẹ vào khoảng 20 cây số. Đó là Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh và những chiến hữu của ông - những con người yêu nước hơn xa mạng sống của chính mình - trên con đường Đông Tiến.

Đó là một mùa thu ảm đạm, đau thương nhất cho những người trong cuộc! Những người còn lại đã vuốt mắt cho các chiến hữu của họ bằng sự son sắt nối tiếp con đường gian nan. Chắc chắn đã có nhiều tiếng thở dài xen lẫn đắng cay nhưng con đường vẫn tiếp nối. Bởi chưa có con đường nào dẫn tới sự tươi đẹp cho cả một dân tộc lại được trải đầy hoa.

Có nhiều người Mỹ gốc Việt đã tham dự ngày tưởng niệm Martin Luther King trong ngày ông đọc bài diễn văn “Tôi có một giấc mơ”, nhưng ít ai biết về giấc mơ của những người lính đã nằm lại nơi biên giới Thái Lan ngày hôm ấy. Anh Nguyễn Trọng Hùng, một chiến hữu sát cánh bên cạnh Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh đã viết về giấc mơ của anh trong một lá thư gởi về cho con: “Bố đi cứu nước và đợi ngày các con thành tài hồi hương kiến quốc. Có như thế bố con chúng mình mới kiêu hãnh ngẩng mặt dưới ánh sáng mặt trời nhận mình là giống dân Hồng Lạc.”

Tôi yêu giấc mơ của Martin Luther King và tôi yêu giấc mơ của những người kháng chiến quân này. Những người tha thiết với giấc mơ của mình cho đến tận những giây phút cuối của cuộc đời!

Ngay cả đến những giây phút cận kề với cái chết, Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh vẫn thiết tha yêu cuộc sống. Tôi còn nhớ ông đã viết một câu trong bút ký của ông khi còn là một thiếu uý trẻ: “chỉ có người lính mới không sợ chết, và cũng chính người lính mới biết sự sống đáng quý đến dường nào.”

Xin được cúi đầu tạ ơn những người lính Việt Nam, những Hoàng Cơ Minh, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Ngô Chí Dũng, Vũ Đình Khoa, Trương Ngọc Ni, Trần Hướng Việt… Các anh đã trao tặng cái quý giá nhất của mình để thực hiện cho bằng được giấc mơ của biết bao con dân Việt Nam. Tưởng nhớ đến các anh, chúng tôi xin nguyện cùng đồng hành, cùng chia chung ước mơ với các anh Điếu Cày, Vi Đức Hồi, Lê Quốc Quân, Trần Vũ Anh Bình, Việt Khang, Nguyên Kha, Phương Uyên, 17 thanh niên yêu nước... và rất nhiều anh chị em khác đang cọ xát với gian nan và hiểm nguy bên ngoài song sắt của lao tù.

Tạ ơn các anh. Xin các anh yên nghỉ. Giấc mơ Việt Nam đang được thực hiện bởi rất nhiều, rất nhiều những người trẻ hôm nay.

GHI CHÚ: Lễ Tưởng Niệm Cố Đề Đốc Hoàng Cơ Minh và Anh Hùng Đông Tiến vào Chủ Nhật 8-9-2013, từ 10:30 giờ sáng đến 2 giờ trưa tại Westminster Rose Center, 14140 All American Way, Westminster, CA 92683.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.