Hôm nay,  

Mỹ-Nga Nháng Lửa

07/09/201300:00:00(Xem: 14724)
Mâu thuẫn Nga Mỹ ở một nơi bất ngờ...

Như một tay mơ chính hiệu, Tổng thống Barack Obama tin vào sự sùng bái mà truyền thông cánh tả dành cho ông, tưởng rằng mình mở ra một kỷ nguyên mới, và như một đấng Cứu Thế sẽ đẩy lui thủy triều. Tuần này, ông bắt đầu thấy ra một sự thật khác.

Sự thật đó không là những lụp chụp với hồ sơ Syria (xin đọc bài "Obama, Syria và Silly-A - Nghịch lý Obama, vũng lội Syria và Liên bang Nga cười cười" trên cột báo này vào tuần trước). Nghĩ rằng dư luận đã quên lời phát biểu dõng dạc hùng hồn của mình vào ngày 20 Tháng Tám năm ngoái, ông chối bỏ rằng mình không vẽ "lằn ranh đỏ" cho chế độ độc tài Bashar al Assad của Syria. Họp báo tại Stockholm bên Thủ tướng Thụy Điển, ông biện bạch là chính "thế giới và Quốc hội Hoa Kỳ" mới vạch ra giới hạn này, nên bây giờ có nhiệm vụ chứng tỏ sự khả tín khi chế độ al Assad sử dụng võ khí hóa học chống lại thường dân.

Nhưng sự bất nhất và dập dừng đó về chuyện Syria đang là thời sự nóng. Nhưng tình chất tài tử của Tổng thống Obama phải được thấy từ trước, trong quan hệ với Liên bang Nga.

Nó đang kết trái tại Thượng đỉnh G-20 ở St. Petersburg: thời sự quốc tế chú ý đến việc Tổng thống Mỹ không có cuộc tiếp xúc song phương với Tổng thống Vladimir Putin của Nga mà lại gặp các tổ chức ngoài chính phủ (NGOs) và những đoàn thể tranh đấu cho nhân quyền tại Nga. Mục đích có thể là để gây khó cho chính quyền Putin.

Chúng ta trở lại nguyên ủy để hiểu ra những mâu thuẫn trong quan hệ Nga-Mỹ mà Obama không thấy, hoặc tưởng rằng mình sẽ vượt qua.

Sau khi đắc cử năm 2008 và vừa nhậm chức vào đầu năm 2009, Chính quyền Obama có sáng kiến gọi là chiến lược, đó là cải thiện quan hệ Mỹ-Nga. Họ dùng một khái niệm vật lý là bật lại cái nút, reset the button.

Về ngôn từ, Phó Tổng thống Joe Biden đã nói sai việc cải thiện này thành "reset" rồi bộ Ngoại giao của Hilary Clinton còn dịch sai ("reset" mà in thành "reload") trên cái hộp bà tặng người tương nhiệm là Ngoại trưởng Sergey Lavrov của Nga. Nhưng chuyện quan trọng không là ngôn từ hay tự vựng mà là nội dung. Obama muốn san bằng mâu thuẫn với Liên bang Nga trong tám năm cầm quyền của George W. Bush, để trở về trước khi có vụ khủng bố 9-11.

Là tay mơ còn đang "phát triển cộng đồng", Obama không nhìn ra một chuyển động lớn từ khi Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991.

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc, các nước Trung Âu và Đông Âu đều thoát khỏi quỹ đạo Xô viết. Họ vừa xây dựng dân chủ vừa hội nhập với Âu Châu, khi ấy còn gọi là Tây Âu, sau này mới thành Liên hiệp Âu châu. Chính quyền Bill Clinton có góp phần chuyển hóa này khi đẩy lá chắn của Minh ước NATO về hướng Đông, đằng sau là các cuộc cách mạng dân chủ muôn màu.

Nhưng nhìn theo con mắt của lãnh đạo Moscow thì đấy là thu hẹp vùng ảnh hưởng của Nga, điển hình là việc Hoa Kỳ can thiệp vào cuộc nội chiến tại Liên bang Nam Tư và vùng Balkans rồi NATO còn tấn công Cộng hoà Serbia, một đồng minh truyền thống của Nga, để cứu dân Hồi giáo tại Kosovo và Âu Châu đòi giành quyền độc lập cho Kosovo....

Bị khủng hoảng trong 10 năm "hậu Liên Xô", Liên bang Nga đành thúc thủ trước thế lực độc bá của Hoa Kỳ. Và chỉ hồi phục từ khi Vladimir Putin lên làm Thủ tướng năm 1999 rồi Tổng thống trong hai nhiệm kỳ, 2000-2008. Dựa trên lợi thế năng lượng lên giá, Putin muốn chinh phục lại vùng ảnh hưởng Xô viết, thực tế là đẩy lui trào lưu dân chủ trong các nước Đông Âu cũ và cản trở sự bành trướng của Liên Âu.

Mâu thuẫn Đông-Tây lại tái diễn.

Dù mắc bận với cuộc chiến chống khủng bố ngay trong năm vừa nhậm chức là 2001, Tổng thống Bush vẫn công nhận sự sai lầm và trách nhiệm của Hoa Kỳ khi bán đứng Đông Âu cho Liên bang Xô viết sau Thế chiến II. Đầu năm 2002, Bush hủy bỏ Hiệp ước ABM (hỏa tiễn chống phi đạn) đã ký kết với Liên Xô từ năm 1972 để giành quyền phát triển hệ thống phòng thủ chống hỏa tiễn đạn đạo (ballistic missile). Ông muốn duy trì động lượng (momentum) của làn sóng dân chủ do vị tiền nhiệm tiến hành, rồi đưa ra kế hoạch bảo vệ Đông Âu bằng lá chắn chiến lược BMD (ballistic missile defense).

Cụ thể là một hệ thống thám báo đặt tại Cộng hoà Tiệp nối kết với dàn hỏa tiễn thiết trí tại Ba Lan. Tiếng là để phát giác và ngăn chặn hỏa tiễn từ Iran mà thực tế là để phòng ngự Đông Âu. Nếu Nga thấy ngại thì phải gây áp lực với Iran, chứ không thể cùng Trung Quốc giải vây và bao che cho các Giáo chủ cực đoan ở Tehran.

Phần mình, ổn định xong nội tình và củng cố được quyền lực, Putin bắt đầu tổng phản công.

Năm 2008, khi Âu Châu và Hoa Kỳ vừa bị khủng hoảng là Nga dùng võ lực tấn công Cộng hoà Georgia (ngày tám Tháng Tám, 2008) rồi gây áp lực về năng lượng với Cộng hòa Ukraina từ đầu năm 2009. Sau đó, Putin còn đưa ra sáng kiến thiết lập hệ thống quan thuế tự do từ Âu Châu tới Á Châu: nếu các nước dân chủ có Liên Âu European Union thì Nga sẽ có Eurasian Custom Union, kéo dài từ rặng Urals tới Viễn Đông và bao trùm lên Trung Á.

Đấy là lúc Obama lên nhậm chức với chiến lược cải thiện quan hệ Mỹ-Nga.

Đầu năm 2009, tại Thượng đỉnh G-20 ở London hai Tổng thống Obama và Dmitri Medvedev đã thông báo một trang sử mới trong quan hệ giữa hai nước. Cụ thể đảo ngược quyết định của Bush và tháo gỡ hệ thống phòng thủ BMD khiến các nước Đông Âu ngao ngán là lại bị Mỹ phản bội. Nhiều người đã quên lời than của cố Tổng thống Václav Havel về vụ này.

Ông Obama còn thương thuyết lại Hiệp ước START sắp mãn hạn và kêu gọi Nga khuyên giải Iran từ bỏ kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm. Mà không kết quả. Những ai mắc chứng Obamê mà hoài nghi chuyện ấy thì có thể vào trang nhà của Phủ Tổng thống đọc lại những giấc mơ màu hồng của Obama với Medvedev.

Vì hạn định của Hiến pháp Nga thời Yeltsin, Putin phải lui về làm Thủ tướng sau hai nhiệm kỳ Tổng thống (2000-2008) nhưng vẫn thực sự là lãnh tụ của Tổng thống Medvedev. Suốt bốn năm liền của Medvedev và từ đầu năm 2012, khi Putin trở về làm Tổng thống, Nga liên tục có thái độ gây hấn với Hoa Kỳ, kể cả bằng oanh tạc cơ Tu-95B và tiềm thủy đĩnh hạng Akula ở ngoài khơi Alaska, trong vùng Vịnh Mễ Tây Cơ và trên lãnh hải của đảo Guam.

Trên toàn cầu, Nga triệt để cấu kết với các chế độ hung đồ như Trung Quốc, Iran, Syria hay Cuba và Venezuela để giảm thiểu ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Vậy mà khi tái tranh cử năm 2012, Obama vẫn nhờ Medvedev nhắn thầm với Putin, rằng sau khi thắng cử, ông sẽ "có khả năng linh động hơn"!

Kết quả thì Barack Obama được Putin trả ơn bằng cái tát: Nga cho Edward Snowden tỵ nạn chính trị sau khi bị nhà chức trách Hoa Kỳ truy nã về tội tiết lộ bí mật quốc gia. Vì biến cố đó mà Obama phải hủy cuộc họp riêng với Putin tại Thượng đỉnh G20 và đi gặp đối lập khi hệ thống quyền lực của Putin đã có dấu hiệu rạn nứt ở bên trong.

Người ta có thể bình luận dài dòng về mâu thuẫn Mỹ-Nga. Sau đây là vài nét chính.

Với rất nhiều nhược điểm - như chủ quan, phóng túng, hết hồ hởi sảng lại hốt hoảng bậy - Hoa Kỳ có chế độ dân chủ. Đây là "chế độ ít tệ nhất trong các giải pháp chính trị mà loài người đã thử nghiệm", ý của Winston Churchill. Ngược lại, Nga vẫn duy trì ách độc tài, tham nhũng thì chẳng thua gì thời Yeltsin, mà chuyên chế gấp bội, với thế lực của Putin được xây dựng trên hệ thống quốc doanh về năng lượng và chiến dịch bóp chết quyền tự do báo chí cùng đòn phép bức hại đối lập.

Khác biệt ấy khiến Hoa Kỳ vẫn là niềm hy vọng cho các nước khát khao dân chủ trên thế giới, còn Nga thì là đồng minh bảo trợ các chế độ chuyên quyền. Cùng với Bắc Kinh, Moscow tận dụng quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để chặn mọi quyết định của Hoa Kỳ và các nước Tây phương và để bảo vệ các chế độ độc tài.

Một mâu thuẫn thứ hai thuộc về kinh tế và chính trị.

Trong khi Hoa Kỳ mở rộng sáng kiến xây dựng chiến lược hợp tác Xuyên Thái Bình Dương TPP và thương thuyết hiệp định tự do mậu dịch với Liên Âu thì Nga phát triển hệ thống tự do mậu dịch Âu-Á như đã nói ở trên. Năm 2008, khi Thụy Điển và Ba Lan đề nghị kế hoạch đối tác (Eastern Partneship) giữa Liên Âu với các nước Đông Âu, như Belarus, Ukraina, Moldova, Georgia, Armenia và Azerbaijan, Putin bèn ra sức ngăn cản bằng kế hoạch quan thuế Âu-Á.

Được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO từ năm ngoái, Nga tiếp tục vi phạm quy định của WTO và gây áp lực kinh tế với các nước Đông Âu để tách họ khỏi Liên Âu và trở về quỹ đạo Xô viết cũ. Chẳng những vậy, Putin tận dụng võ khí năng lượng để chia rẽ các nước Tây Âu với Đông Âu như đã thấy từ đầu năm 2009: Nga phong toả khí đốt bán cho Ukraina làm các nước Tây Âu khốn đốn và đòi Ukraina phải nhượng bộ Moscow.

Chiến lược hơn vậy, Putin còn muốn kéo nước Đức vào thế trung lập, thậm chí thỏa hiệp với Moscow để có thể mua khí đốt của Nga. Người ta không quên là ngay sau khi Putin tấn công Georgia năm 2008, Thủ tướng Đức là Angela Merkel đã lập tức bay qua Moscow hoà giải, trước phản ứng khó chịu của hai Tổng thống Bush và Nicolas Sarkozy của Pháp.

Nhưng thật ra, mâu thuẫn quan trọng nhất giữa Hoa Kỳ và Liên bang Nga nằm trong một lãnh vực sinh tử của Nga, và bên ngoài chánh sách của Obama. Đó là năng lượng.

Liên bang Nga của Putin chỉ là một nước chậm tiến, sống nhờ sản xuất và xuất cảng năng lượng. Khu vực dầu khí chiếm tới 30% Tổng sản lượng, đem lại phân nửa ngân sách của Putin và 70% xuất cảng của Nga. Nhưng từ khi lãnh đạo, Putin dùng năng lượng làm võ khí và còn cả tin vào một chiều hướng lâu dài là năng lượng lên giá. Cũng vì vậy, kinh tế Nga lệ thuộc vào dầu thô và khí đốt, mà khu vực năng lượng lại tụt hậu nhờ được bảo vệ và giữ thế độc quyền.

Trong khi đó, vì giá dầu khí tăng vọt, thị trường tại Hoa Kỳ đã lặng lẽ tính kiểu khác.

Không chỉ nâng hiệu suất tiêu thụ, tốn ít hơn mà được nhiều hơn để giảm số cầu, kỹ nghệ năng lượng Mỹ còn cải tiến khả năng sản xuất để nâng số cung.

Họ đào dọc rồi xoay ngang và bơm dung dịch với áp suất cực mạnh vào đá phiến để gạn ra dầu khí và áp dụng công nghệ mới để chế tạo khí lỏng có khả năng vận chuyển tiện lợi hơn. Kết quả là Hoa Kỳ bỗng dưng thành đại gia sản xuất năng lượng với triển vọng là một nước xuất cảng đáng kể. Không những vậy, qua các dự án liên doanh và hợp tác, Hoa Kỳ còn quảng bá kỹ thuật mới cho các nước Tây phương.

Họ không còn bị khối OPEC hay các nước Trung Đông bắt bí về năng lượng mà còn đe dọa thị trường xuất cảng của Nga và giúp Âu Châu có dầu, khí, và cả than đá, để khỏi bị Putin xử ép.

Trận đánh Mỹ-Nga về dầu khí mới là hồ sơ còn đáng kể hơn chuyện Syria hay Geogia, Ukraina....

Tuần qua, một ông trùm về năng lượng của Nga báo động rằng "các doanh nghiệp quốc tế đang có âm mưu phá hoại khu vực năng lượng và làm kinh tế của Nga bị tê liệt". Chủ tịch Igor Sechin của tập đoàn quốc doanh Rosneft không là tài phiệt ôm tiền trong quỹ đạo Putin, mà là người cầm đầu phe "sikovili" gồm các thế lực an ninh và quân sự bảo thủ nhất của Putin, và từng là Phó Thủ tướng và cố vấn thân tín cho Putin. Lý do báo động là vì tổ hợp ExxonMobile của Mỹ vừa tạm ngưng thực hiện một dự án khí lỏng cho Nga. Đấy chỉ là chi tiết nhỏ phản ảnh vấn đề lớn.

Trong cả chục năm, Putin củng cố và bảo vệ thế độc quyền của các tập đoàn năng lượng nhà nước. Nhưng thế độc quyền mới gây lụn bại, như đã thấy tại Iran, Venezuela, Việt Nam hay Trung Quốc. Và ngày nay hệ thống tụt hậu này của Nga cần học hỏi công nghệ hiện đại của các nước Tây phương. Khi Putin gây khó cho các nước Tây phương thì mới thấy khí bốc lên đầu....

Chi tiết ly kỳ là Chính quyền Obama đã đi bên lề cuộc cách mạng về công nghệ năng lượng của Hoa Kỳ, có lúc còn muốn cản trở vì áp lực của cánh tả là để bảo vệ môi sinh.... Lần này, Tổng thống Mỹ sẽ ngẩn ngơ trước thế lực của nước Mỹ và sự hậm hực của Putin.

Chính sách "reset" của ông rất vần với rỉ sét!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.