Hôm nay,  

Putin, Obama và Syria

17/09/201300:00:00(Xem: 15329)
Mấy tuần qua, dư luận Mỹ sôi nổi trước những dấu chỉ Tổng thống Barack Obama sẽ dùng biện pháp quân sự đối với Syria, vì chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad đã dùng võ khí hoá học tấn công vào phe nổi dậy ở ngoại ô Damascus hôm 21-8-13 khiến cả ngàn người chết, trong đó có nhiều trẻ em.

Tổng thống Obama đã nhiều lần cảnh cáo nếu Damascus bước qua lằn đỏ, tức là dùng võ khí hoá học, Hoa Kỳ sẽ có biện pháp.

Hình ảnh về những cái chết của phụ nữ và trẻ nhỏ gần thủ đô Damascus được truyền thông và các tổ chức bảo vệ nhân quyền phổ biến cho thấy nhiều em bị giết chết mà trên người không có dấu thương tích. Giới chức hành pháp Mỹ tin rằng Assad đã ra lệnh cho quân đội xử dụng chất hoá học trong cuộc chiến, một sự vi phạm nghiêm trọng những công ước quốc tế. Theo Obama, Damascus đã bước qua lằn đỏ.

Tuy nhiên những nỗ lực ngoại giao của Mỹ để tìm sự hậu thuẫn quốc tế cho một cuộc tấn công vào Syria đã không được nhiều quốc gia ủng hộ. Quốc hội Anh quyết định không can dự quân sự vào Syria. Nga Sô và Trung Quốc không ủng hộ Mỹ.

Tại hội nghị G-20, một lời kêu gọi quốc tế phản ứng mạnh đối với Syria được một nửa số lãnh đạo tham dự tán đồng, trong đó có Anh, Pháp, Úc, Canada, Nhật, Nam Hàn. Một nửa không ủng hộ có Nga Sô, Đức, Mexico, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi, Indonesia. Thế giới quan ngại về chủ trương của Mỹ, một phần vì những bằng chứng võ khí hoá học không có thực đã được lãnh đạo Mỹ đưa ra trước khi đem quân vào Iraq một thập niên trước đây.

Tổng thống Obama muốn có sự đồng tình của Quốc hội. Một ủy ban của Thượng viện đã thông qua nghị quyết ủng hộ biện pháp quân sự. Nhưng đa số dân chúng thì không. Vùng San Francisco nổi tiếng chống chiến tranh, khi nghị sĩ Dianne Feinstein phát biểu tỏ ý ủng hộ giải pháp quân sự thì nhiều người đã kéo đến trước tư gia của bà biểu tình phản đối.

Dân Mỹ nghi ngờ chính phủ của họ. Các thăm dò trong hai tuần qua cho thấy 60% dân chúng không ủng hộ biện pháp quân sự. Nhiều dân cử Quốc hội cũng không tán đồng, dù biện pháp đưa ra rất giới hạn vào mục tiêu và trong ngắn hạn.

Hôm thứ Ba, Tổng thống Obama nói chuyện với quốc dân và vẫn muốn dùng biện pháp quân sự để trừng phạt Damascus. Tổng thống nói những lý tưởng và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ đang bị đe doạ ở Syria. Hoa Kỳ không thể để cho chuyện dùng võ khí hoá học giết người mà không có phản ứng.

Tuy nhiên, Tổng thống Obama cũng hoãn lại kế hoạch quân sự để cho các giải pháp ngoại giao có cơ hội hình thành trước đề nghị của Nga Sô, và Damascus đã đồng ý, cho một ủy ban quốc tế vào Syria kiểm soát và tiêu hủy võ khí hoá học.

Tuần qua, sau những thương thảo tại Geneve, Hoa Kỳ và Nga Sô đã đạt được một thoả thuận về kiểm tra và giải giới vũ khí hoá học của Syria. Theo đó, trong vòng một tuần Damascus phải chuyển cho ủy ban thanh sát danh sách vũ khí hoá học đang có. Sau đó quốc tế sẽ tiến hành kế hoạch tiêu hủy, hoàn tất chậm nhất là giữa năm 2014.

Syria có thực lòng tuân thủ thoả thuận này và các công ước quốc tế hay không thì phải chờ thời gian trả lời.

Có lý giải về sự chần chừ, tính toán của Obama mang tính thiếu cương quyết của lãnh đạo Hoa Kỳ. Vì nếu chỉ tấn công vào một số căn cứ quân sự, trung tâm sản xuất vũ khí của Syria và trong một thời gian vài ngày mà không đưa lính Mỹ vào, Obama không cần có sự chấp thuận của Quốc hội. Những tổng thống Mỹ như Ronald Reagan, George Bush (cả cha và con) cũng như Bill Clinton đã hành động như thế ở Grenada, Pamana, Lybia, Bosnia-Kosovo.

Sau bài diễn văn của Obama tối 10-9, không khí sôi nổi và so lợ Hoa Kỳ lại can dự vào chiến tranh tạm lắng xuống, tuy nhiên đa số dân Mỹ cũng không thay đổi quan điểm về việc Hoa Kỳ dùng biện pháp quân sự ở Syria.

Vì sao Hoa Kỳ lại quan tâm đến Syria? Hai năm trước, vùng Trung Đông nổi lên những cuộc xuống đường đòi tự do dân chủ, từ Ai Cập, Tunisia sang đến Libya. Những cuộc biểu tình nổ ra làm nên “Mùa xuân Ả Rập”.

Cơn sóng dân chủ cũng tràn sang Syria với những cuộc xuống đường đòi tự do, nhưng Tổng thống Bashar al-Assad ra lệnh cho quân đội thẳng tay đàn áp. Từ đó bùng lên chiến tranh giữa phe cầm quyền và những nhóm chống đối. Hai năm qua, cuộc nội chiến ở Syria đã khiến cả trăm nghìn người chết, hàng triệu cư dân phải rời bỏ nơi cư trú để tạm lánh nạn ở những vùng không có chiến tranh hay phải vượt biên giới qua các nước lân bang Lebanon, Turkey, Jordan để tị nạn.

Syria có 22 triệu dân và hiện nay trên 5 triệu người đã đi tị nạn ngay trên chính quê hương hay tại một quốc gia lân bang, là làn sóng tị nạn đông nhất kể từ đầu thế kỷ.

Syria cũng đã trở thành điểm đối đầu giữa Hoa Kỳ và Nga Sô, căng thẳng nhất trên mặt trận ngoại giao.

Sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ và Nga Sô đã coi nhau như bạn trong hai thập niên qua, cho đến khi Vladimir Putin trở thành tổng thống thì hai nước lại đối nghịch nhau, tuy không đến mức nóng như trong thời chiến tranh Việt Nam. Tổng thống Putin và Tổng thống Obama chẳng vui vẻ gì với nhau kể từ khi cựu nhân viên tình báo NSA Edward Snowden đến Nga xin tị nạn. Hoa Kỳ muốn Snowden bị trục xuất về Mỹ để đối mặt với công lý, Nga Sô cho anh ta tị nạn. Obama hủy bỏ cuộc gặp đã lên chương trình với Putin nhân dịp hội nghị G-20 ở St. Petersburg, Nga Sô. Một quyết định chưa từng xảy ra giữa lãnh đạo hai nước.

Tại hội nghị G-20 hôm đầu tháng này, hai lãnh đạo chỉ vui vẻ bắt tay trước ống kính truyền thông chứ không nồng ấm gì trong các buổi thảo luận. Quan hệ hai nước trở nên căng thẳng khi Hoa Kỳ nói có bằng chứng Assad trong tháng Tám đã xử dụng võ khí hoá học trong một cuộc tấn công vào phe chống đối khiến hàng ngàn người chết, trong đó có nhiều trẻ em.

Từ khi xảy ra nội chiến, Hoa Kỳ đã đóng cửa sứ quán ở Damascus và công khai bày tỏ lập trường ủng hộ quân chống lại chính quyền Assad. Đã nhiều lần các nhà làm chính sách của Mỹ tuyên bố muốn Assad rút lui. Còn Nga Sô lại ủng hộ Assad.

Một ngày sau diễn văn của Tổng thống Obama, Tổng thống Putin viết bài xã luận đăng trên báo New York Times đưa ra lập luận rằng vũ khí hoá học đã được phe chống đối xử dụng, không phải do chính quyền Assad. Theo Putin, phe nổi dậy muốn lôi kéo các cường quốc vào cuộc nội chiến ở Syria. Như thế đang có cuộc đối đầu giữa hai cường quốc đã một thời đo găng với nhau trên chiến trường Việt Nam.

Tại sao Hoa Kỳ muốn can dự vào Syria, một quốc gia cách xa nước Mỹ cả vạn cây số. Vì quyền lợi kinh tế, vị trí chiến lược, an ninh của Hoa Kỳ hay vì lý tưởng dân chủ tự do?

Vị trí chiến lược có lẽ là lý do quan trọng hơn cả. Hoa Kỳ không muốn có thêm một quốc gia thù nghịch nữa với Mỹ, sau Iran, trong vùng.

Nhưng điều đó ngày nay không đơn giản và dễ dàng. Tại Syria, Hoa Kỳ và Anh, Pháp đứng về một phía. Đối nghịch lại là Nga Sô và Trung Quốc, ít nhất là trên mặt trận ngoại giao và chính trường quốc tế trong lúc này vì đều là thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc.

Nhìn cảnh chiến tranh, người tị nạn và sự can dự của các nước lớn vào Syria mà không thể không liên tưởng đến Việt Nam nửa thế kỷ trước.

Bài học nội chiến ở Việt Nam có ai còn nhớ không?

© 2013 Buivanphu.wordpress.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.