Hôm nay,  

Thu Cảm

24/09/201300:00:00(Xem: 14807)
- Bài I: Bài thơ “Thu Cảm”, thất ngôn bát cú, luật trắc; là bài “thơ thuận nghịch đọc”. Đọc xuôi từ trên xuống.

“Thu Cảm”, sớm khuya mê mải trông!
Lá vàng say đắm, ngẫm nghiền lòng?!
Ngưu nhung nhớ Chức, luôn hò hẹn
Quạ dựng xây cầu, mãi ước mong!
Đau đớn giống nòi, than thở sống!
Thiết tha non nước giữ gìn phòng!
Thâu đêm trăng sáng, sao mơ mộng?!
Dâu bể, sắc thu nhuộm núi sông?!


- Bài II: Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu của bài thơ “Thu Cảm” (bài I), thành bài thơ ngũ ngôn, luật bằng. Đọc xuôi.

Sớm khuya mê mải trông!
Say đắm ngẫm nghiền lòng?!
Nhớ Chức, luôn hò hẹn
Xây cầu, mãi ước mong!
Giống nòi, than thở sống!
Non nước giữ gìn phòng!
Trăng sáng, sao mơ mộng?!
Sắc thu nhuộm núi sông?!


- Bài III: Bỏ 3 chữ đầu mỗi câu của bài thơ “Thu Cảm” (bài I), thành bài thơ mỗi câu 4 chữ.

Khuya mê mải trông!
Đắm, ngẫm nghiền lòng?!
Chức, luôn hò hẹn
Cầu, mãi ước mong!
Nòi, than thở sống!
Nước giữ gìn phòng!
Sáng, sao mơ mộng?!
Thu nhuộm núi sông?!

Cảm Thu


- Bài IV: Khi đọc ngược bài thơ “Thu Cảm” (bài I), từ dưới lên. Sẽ có bài thơ “Cảm Thu”, thất ngôn bát cú, luật trắc.

Sông núi nhuộm thu sắc, bể dâu?!
Mộng mơ sao, sáng trăng đêm thâu?!
Phòng gìn giữ, nước non tha thiết!
Sống thở than, nòi giống đớn đau!
Mong ước mãi, cầu xây dựng quạ
Hẹn hò luôn, Chức nhớ nhung Ngưu
Lòng nghiền ngẫm, đắm say vàng lá!
Trông mải mê, khuya sớm “Cảm Thu”!


- Bài V: Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu của bài IV, bài thơ “Cảm Thu”, thành bài thơ ngũ ngôn, luật bằng.

Nhuộm thu sắc, bể dâu?!
Sao, sáng trăng đêm thâu?!
Giữ nước non tha thiết!
Than nòi giống đớn đau!
Mãi, cầu xây dựng quạ
Luôn, Chức nhớ nhung Ngưu
Ngẫm, đắm say vàng lá!
Mê khuya sớm “Cảm Thu”!


- Bài VI: Bỏ 3 chữ đầu mỗi câu của bài IV, bài thơ “Cảm Thu”, thành bài thơ mỗi câu 4 chữ.

Thu sắc, bể dâu?!
Sáng trăng đêm thâu!
Nước non tha thiết!
Nòi giống đớn đau!
Cầu xây dựng quạ
Chức nhớ nhung Ngưu
Đắm say vàng lá!
Khuya sớm “Cảm Thu”!


Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.