Hôm nay,  

Giáng Sinh 2013

13/11/201300:00:00(Xem: 6139)
Mừng một biến cố lịch sử xẩy ra trên hai ngàn năm trước, nhưng vẫn như mới xẩy ra hôm nào trong thời đại của chúng ta. Thật vậy, mỗi độ Giáng Sinh về, nhất là ở vùng trời Âu này, khi ta có dịp đi ngang qua một giáo đường, hay chính ngày lễ lớn, có dịp cùng với bạn hữu đi dự lễ Giáng Sinh vào tối 24-12, bạn sẽ được chứng kiến một cảnh ngộ rất thời thượng, một con người được sinh ra không phải ở trong một căn hộ ấm áp có gường, có nệm, có lò sưởi với những tiện nghi, mà là một hài nhì sinh ra trong cảnh nghèo hèn thiếu thốn mọi thứ, còn nơi sinh là hang của chuồng bò, lừa trú lạnh ban đêm ở nơi cánh đồng vắng nước Israel thủa trên hai ngàn năm trước. Vì các phòng trọ không còn chỗ trống. Xin mời bạn theo tôi tìm lại lai lịch biến cố này qua Thánh Sử Luca đoạn I từ câu 18 đến 25.

“Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính thư vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. Tất cả sự việc này đã xẩy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dậy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su”.

Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi.

Chúng ta nên đọc tiếp một đoạn nữa của Luca 2, từ câu 1 đến câu 6.

“Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, và hỏi: Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người. Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn đắt Ít-ra-en dân ta sẽ ra đời”.

Qua hai đoạn tin mừng chúng ta đã biết được biến cố về lễ Giáng Sinh, một vị Thiên Chúa bởi trời mà xuống trần gian, trong hoàn cảnh gia đình ông Giu-se và bà Maria, một gia đình nghèo, ông thì làm nghề thợ mộc, bà thì lo việc nội trợ trong nhà. Nhân có cuộc làm lại sổ hộ khẩu của nhà Vua Hê-rô-đê thời bấy giờ, mà ông bà ở nơi khác, phải về quê hương của mình để khai sổ hộ khẩu; đường đi thì xa, không có xe cộ như thời bây giờ, phải đi bộ, mà bà thì có mang gần đến ngày sinh, nên ông phải cho bà ngồi trên lưng lừa và dong lừa đi. Về đến quê hương thì chiều đã xuống, các nhà trọ cho mướn để qua đêm đã không còn chỗ, ông bà đành phải ra ngoài cánh đồng vắng tìm đến nơi trú thân của loài vật về đêm để ở tạm. Nào ngờ, giờ sinh đã đến với bà trong hoàn cảnh ở giữa đồng vắng, không đèn, không hàng xóm, không một phương tiện liên lạc như điện thoại, và thời đó cũng không có xe cứu thương như thời nay.

Nhưng khi bà vừa hạ sinh hài nhi thì có tiếng hát của Thiên Thần ca mừng rằng:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người Chúa thương”.

Lại có những người chăn giữ đàn vật ở đâu dó cũng đến tụ lại qùy gối bái chào hài nhi và những con vật trú qua đêm ở căn chòi lá cũng bu lại thở hơi ấm làm cho hài nhi bớt lạnh giá trong cảnh đêm đông.

Thiên Chúa từ trời cao khi muốn xuống thế làm người, đã chọn sinh ra trong cảnh ngộ thật nghèo khó. Nghèo khó đến nỗi không còn chỗ trọ, để trú chân qua đêm. Cũng có thể vì Ngài mặc lấy thân phận rất nghèo, cứ trông vẻ bề ngoài một người đàn ông dẫn theo bà vợ có bầu không biết sẽ sinh giờ nào, tìm quan trọ thì chủ quán ai cũng ngại, chưa kể những chủ quán giầu có, họ chỉ muốn cho mướn, cho trọ những người giầu, có tiền. Chính vì cái cảnh nghèo đó mà ông bà bị từ chối, nên đã phải tìm ra ngoài đồng, tìm vào trú chân trong những lán lá người ta che mưa gió cho loài vật trú qua đêm.

Cảnh giầu và nghèo là hai gia cấp muôn thủa thời nào cũng có. Từ thời lễ Giáng Sinh hơn hai ngàn năm trước, và trước nữa, cũng như cho đến ngày nay. Người giầu chẳng có bao nhiêu, tỷ phú nước nào cũng có nhưng chỉ đếm được bằng con số, không nhiều, số trăm thôi. Nhưng thống trị thế giới lại là giới tỷ phú, có tiền, có quyền, nhưng không phải là không có người nhận ra, nhiều người nghèo cũng biết. Do đó họ muốn đem lại công bình cho thế giới, cho mọi người, nhưng gặp thật nhiều trở ngại và khó khăn. Như một Tổng Thống siêu cường quốc muốn cho người dân có bảo hiểm sức khỏe nhưng chưa làm được, và bao đời tổng Thống nước Mỹ đã muốn làm. Giờ đến lượt tổng thống Obama nhưng cũng còn gặp muôn vàn khó khăn và chống đối, không hiểu rồi ông có thực hiện được hay không.

Là người công giáo, mặc nhiên thông cảm nỗi nghèo của người nghèo hơn những người khác. Nhất là mỗi độ Giáng Sinh về, do đó họ dễ dàng cảm nhận thân phận của người nghèo hơn ai hết, nên họ có mặt tích cực ở môi trường xã hội, chính trị trước những người khác dựa vào học thuyết xã hội công giáo:

“Trên thực tế, người ta có thể hành động, hoặc trong cuộc sống cá nhân, gia đình, hoặc trong cách sinh hoạt cộng đồng. Trong lãnh vực tư, nhiệm vụ căn bản là sống và cư xử theo lời dậy Phúc âm, và đừng lùi bước trước những hy sinh và các đau khổ mà nhân đức Ki-tô giáo đòi hỏi. Hơn nữa, tất cả phải yêu mến Giáo hội như là mẹ chung, tuân lời, đề cao danh dự, bảo vệ quyền lợi và lo sao để những người dưới trách niệm của mình biết kính nể và mến yêu Giáo hội trong tình thảo ngay”. Trong lãnh vực công cộng, người công giáo cũng cần phải tham gia vào công việc hành chánh địa phương một cách khôn ngoan, nhất là nỗ lực thúc giục chính quyền cung ứng một nền giáo dục tôn giáo và đạo đức cho giới trẻ, một điều mà Ki-tô hữu rất cần, và cũng là lợi ích sinh tử của xã hội. Một cách chung, người công giáo nên được khuyến khích để nới rộng hoạt động của mình vượt ra ngoài cả những giới hạn còn chật hẹp này để dấn thân vào các phần vụ quan trọng hơn của đất nước. Chúng tôi nói “một cách chung”, vì ở đây chúng tôi muốn nói đến tất cả các nước. Tuy thế, cũng có khi, vì những lý do quan trọng và chính đáng, tham gia vào chính sự và nhận những chức vụ có thể không thích hợp. Nhưng luật chung, như chúng tôi đã nêu trên đây, từ chối dấn thân vào việc nước có thể đáng trách cứ như là chểnh mảng, thờ ơ với công ích, hơn thế nữa, giáo lý mà người công giáo tuyên xưng lại buộc họ khải ngay chính chu toàn bổn phận ấy. Và nếu họ trốn tránh việc nầy, thì giềng mối đất nước sẽ dễ dàng rơi vào tay những kẻ có những ý kiến không mang lại nhiều hy vọng tốt đẹp cho đất nước. Lúc ấy dù Ki-tô hữu có muốn hay không, thì kẻ thù của Giáo hội sẽ có toàn quyền và người bênh vực Giáo hội thì ở bên lề. Do vậy, người công giáo hẳn có lý do chính đáng để dấn thân vào cuộc sống chính trị; vì họ làm và phải làm chính trị, không phải để tán đồng những điều đáng trách cứ đang hiện hữu có trong các cơ chế chính trị, nhưng để hết sức mình khai triển công ích chân thật ngay trong các định chế nầy bằng cách cố đưa vào trong guồng máy chính quyền nền đạo đức và ảnh hưởng của đạo công giáo, như nhựa sống và như dòng máu cứu độ”.(Trích từ Một cái nhìn mới về Học Thuyết Xã Hội Công Giáo từ tủ sách Muối Đất Định Hướng xuất bản năm 2000 nơi trang 28 và 29).

Là người tin vào Chúa, phục tùng giáo hội của Ngài qua Đức Giáo Hoàng nên tích cực tham gia vào các việc công ích, không thể thờ ơ nghĩ rằng đã có kẻ khác làm, chúng ta không cần tham gia, không cần làm. Thật vậy, nếu việc như ra ứng cử vào các hội đồng thị xã, ứng cử vào tòa nhà lập pháp như quốc hội hạ viện, thượng viện, người công giáo thờ ơ không tham gia, không có mặt thì làm cách nào góp tiếng nói để sản sinh ra những luật lệ, mà luật lệ trong những quốc gia pháp trị được áp dụng để đem lại công bằng cho hết mọi người, nhất là những người nghèo. Nếu những người công nhân làm việc trong các nhà máy, xưởng thợ mà không có công đoàn để bảo vệ những quyền lợi như có đồng lương đủ nuôi sống gia đình, con cái được cắp sách đến trường, có bảo hiểm sức khỏe, căn hộ đủ ấm vào mùa đông thì làm sao người công nhân có đủ tâm trí tập trung vào sản xuất cho ra những sản phẩm cho nhà máy. Cái nghèo của thời trước Giáng Sinh và của ngày hôm nay cũng không khác nhau.

Nhưng mỗi người là một chủ thể, nhân loại càng đông thì càng có nhiều chủ thể. Do vậy, người tham gia vào guồng máy công quyền, nhất là những người trực tiếp làm ra những luật lệ như dân biểu hạ nghị viện, dân biểu thượng viện, cần phải cân nhắc thật kỹ để giảm thiểu đến mức tối đa những cá nhân không tôn trọng những lợi ích chung liên quan đến tập thể như: trộm cắp, phá hoại những phương tiện sản xuất, nhà máy, họ chỉ mưu cầu lợi ích riêng mà không quan tâm đến lợi ích chung của kẻ khác, của cả một tập thể lớn. Người làm luật phải tìm cách giảm thiểu được những cá nhân thiển cận này để công ích được sáng, hầu căn nhà chung của thế giới không còn cảnh bất công và nghèo khó.

Nhờ sự dấn thân của những người mang tầm nhìn của học thuyết xã hội của giáo hội mà một số rất nhỏ quốc gia trên thế giới, khoảng 10 trong 224 nước hiện giờ trên thế giới, có được những luật căn bản về “an sinh xã hội” như một số nước ở vùng Bắc Âu hay như Hòa Lan, Thụy Sĩ; có một tổ chức xã hội thật lý tưởng đúng như giấc mơ của Liên Hiệp Quốc từng mơ ước là: mỗi người có lương thực hành ngày, có nhà ở và được sưởi ấm về mùa đông, con cái được đến trường, mọi người đều có bảo hiểm sức khỏe, các dịch vụ đều bình đẳng khi đến bác sĩ nhà, khi vào bệnh viện, và khi chết được an táng cách bình thường. Được như vậy, là do mọi người không thờ ơ với việc chung, nhất là thờ ơ với những sinh hoạt chính trị.

Nhìn vào máng cỏ, nơi Hài nhi Giê-su được sinh ra, cảnh khó nghèo của trên hai ngàn năm trước không khác là bao với xã hội hôm nay, cảnh giầu nghèo vẫn còn, một phần cũng do chúng ta còn thờ ơ, vẫn lạnh lùng với người bên cạnh và hơn nữa thật thờ ơ khi không chịu góp sức vào những công tác chung của xã hội, chung lòng với người bên cạnh góp công sức để kiến tạo một xã hội công bằng, huynh đệ và yêu thương./-

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuối năm là lúc con người nhìn lại về giá trị cuộc sống. Một bài viết trên trang mạng The Conversation nêu vấn đề về những vực thẳm chính trị, các cuộc chiến tranh, áp bức… và con người vì thế cảm thấy vô vọng và bất lực khi chứng kiến những thế lực đen tối diễn ra khắp nơi trên thế giới. Liệu chúng ta có thể làm được điều gì đem lại thay đổi trước những bi hoại này hay không?
Danh hiệu “Nhân Vật Của Năm” do TIME bắt đầu từ năm 1927 – theo truyền thống được trao cho những người có ảnh hưởng đáng kể trong các sự kiện toàn cầu, từ chính trị đến văn hóa, môi trường, nghệ thuật. Những người được chọn đóng vai trò như một “thước đo phong vũ” về sức lan tỏa trong xã hội đương đại. Ảnh hưởng đó, theo tiêu chuẩn do chính TIME đề ra, có thể là “for better or for worse – làm cho thế giới tốt đẹp hơn hoặc tệ hại hơn.”
Tiễn 2024, thế giới sẽ chào đón một năm mới 2025 mang theo cả bóng tối lẫn ánh sáng. Các cuộc xung đột, sự phân cực chính trị và những rủi ro khôn lường là lời nhắc nhở về sự bất ổn của thời đại. Nhưng đồng thời, khả năng phục hồi kinh tế, sự phát triển công nghệ, tinh thần hợp tác quốc tế, hơi thở và sự sống còn bất khuất của từng người mẹ, từng đứa trẻ vực dậy và vươn lên từ những đống gạch vụn đổ nát ở Ukraine, ở Gaza, ở Syria… cũng là cảm hứng và hy vọng cho tương lai nhân loại. Nhà văn Albert Camus đã viết: “Giữa mùa đông lạnh giá nhất, tôi tìm thấy, trong mình, một mùa hè bất khả chiến bại.”* Thế giới năm 2025, với tất cả những hỗn loạn, vẫn mang đến cơ hội để con người vượt qua và xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, tử tế hơn. Đó cũng là lời chúc chân thành cuối năm của toàn ban biên tập Việt Báo gửi đến quý độc giả: một năm 2025 tràn trề cơ hội và hy vọng.
Trong ba năm học gần đây, PEN America đã ghi nhận hàng loạt trường hợp cấm sách xảy ra trên toàn nước Mỹ, đặc biệt trong các trường công lập. Những nỗ lực xóa bỏ một số câu chuyện và bản sắc khỏi thư viện trường học không chỉ gia tăng mà còn trở thành dấu hiệu của một sự chuyển đổi lớn hơn, đặt ra câu hỏi nghiêm trọng về tương lai của giáo dục công lập. Việc kiểm duyệt này phản ánh một xu hướng đáng lo ngại: sự tập trung vào việc kiểm soát nội dung văn hóa và giáo dục, thay vì khuyến khích học sinh tiếp cận kiến thức đa chiều.
Syria đang sống trong một bước ngoặt lịch sử sau khi chế độ độc tài sụp đổ nhanh chóng và Bashar al-Assad trốn sang Nga để tị nạn. Các nhóm nổi dậy chiến thắng đang cố gắng duy trì trật tự công cộng và thảo luận về các kịch bản cho tương lai. Lòng dân hân hoan về một khởi đầu mới đầy hứa hẹn pha trộn với những lo âu vì tương lai đất nước còn đầy bất trắc. Trong 54 năm qua, chế độ Assad đã cai trị đất nước như một tài sản riêng của gia đình và bảo vệ cho chế độ trường tồn là khẩu hiệu chung của giới thân cận.
Các số liệu gần đây cho thấy những thách thức mà nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đối mặt để phục hồi kinh tế cho năm 2025, khi quan hệ thương mại với thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc có thể xấu đi cùng lúc mức tiêu thụ trong nước vẫn sụt giảm. Và thật sự thì nền kinh tế Trung Quốc tệ đến mức nào? Việc đặt câu hỏi này ngày càng trở nên hợp lý khi Trung Quốc đang đối mặt với tình trạng sản xuất trì trễ và tiền tệ mất giá kéo dài trong những năm gần đây. Đặc biệt, chính quyền Bắc Kinh dường như không muốn công khai toàn bộ thực trạng.
Chiều ngày Thứ Ba 17/12, tòa án New York kết án Luigi Mangione 11 tội danh, bao gồm tội giết người cấp độ 1, hai tội giết người cấp độ 2 cùng các tội danh khác về vũ khí và làm giả danh tính. Theo bản cáo trạng, một bồi thẩm đoàn ở Manhattan đã truy tố Mangione về tội giết người cấp độ hai là tội khủng bố. Tòa đã kết tội hành động của Luigi Mangione – một hành động nổi loạn khó có thể bào chữa dù đó là tiếng kêu cuối cùng của tuyệt vọng.
Ngay từ thời điểm này, cho dù chưa chính thức bước vào Tòa Bạch Ốc, tổng thống đắc cử Donald Trump đã hứa hẹn một chiến dịch bài trừ di dân lớn nhất lịch sử Mỹ. Những cuộc kiểm soát, bắt bớ, trục xuất di dân dự kiến sẽ diễn ra với qui mô lớn trong vài năm tới. Nhiều sắc dân nhập cư ở Mỹ sẽ phải lo lắng, nhưng cộng đồng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ là cộng đồng di dân gốc Mỹ Latin. Lời hứa này đang làm hài lòng những người Mỹ xem dân nhập cư là kẻ cướp đi việc làm và quyền lợi của mình. Rất đông trong số này thuộc các cộng đồng di dân, trong đó có cộng đồng gốc Việt. Tuy nhiên, có bao nhiêu người thấy được toàn cảnh ảnh hưởng của những chính sách bài trừ di dân đến nền kinh tế và xã hội Hoa Kỳ?
Trong tài liệu của Thư Viện Quốc Hội ghi rằng, nguồn gốc của quyền ân xá trong Hiến Pháp Hoa Kỳ đến từ lịch sử Anh quốc. Quyền ân xá xuất hiện lần đầu tiên dưới thời trị vì của Vua Ine xứ Wessex vào thế kỷ thứ bảy. Mặc dù tình trạng lạm dụng quyền ân xá ngày càng tăng theo thời gian, dẫn đến những hạn chế sau đó, nhưng quyền ân xá vẫn tồn tại trong suốt thời kỳ thuộc địa của Mỹ.
Tôi cộng tác với tuần báo Trẻ (tờ báo có nhiều ấn bản nhất tại Hoa Kỳ) gần hai chục năm qua. Sự gắn bó lâu dài này không chỉ vì tấm lòng yêu nghề (và thái độ thân thiện cởi mở) của ban biên tập mà còn vì chút tình riêng. Mỗi tuần Trẻ đều dành hẳn một trang báo, để trân trọng giới thiệu đến độc giả hai ba vị thương phế binh (Việt Nam Cộng Hòa) đang sống trong cảnh rất ngặt nghèo ở quê nhà. Nhìn hình ảnh đồng đội của mình đang ngồi trên xe lăn, hay nằm thoi thóp trong một gian nhà tồi tàn nào đó – lắm lúc – tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi: “Liệu có còn ai nhớ đến những kẻ đã từng vì đời mà đi không vậy?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.