Hôm nay,  

Lạm Phát và Suy Trầm

19/11/201300:00:00(Xem: 6233)
Bốn nền kinh tế hàng đầu thế giới đang trải qua một tình trạng mất cân bằng hiếm thấy: một mặt Trung Quốc cố giữ tăng trưởng ở mức 7% không cho tụt xuống, mặt khác các nước Âu-Mỹ-Nhật lại muốn nâng lạm phát hiện quá thấp dưới mức 2% tăng lên 3-4%. Hiện tượng này giống như hai bong bóng, một quả ráng xì hơi chầm chậm vì căng thêm sợ nổ, quả còn lại cứ bơm thêm mãi mà vẫn không chiụ phồng lên.

Lạm phát (inflation) cao không tốt, nhưng ít ai biết rằng lạm phát quá thấp còn đáng sợ hơn nửa vì là triệu chứng của nạn suy trầm (deflation). Một quốc gia tiên tiến trong tình trạng phát triển điều hoà cần có lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp khoảng từ 2%-3%; cao hay thấp hơn hai mức này đều là những dấu hiệu xấu.

Lạm phát ở mức độ vừa phải là hệ lụy của tăng trưởng khi có người thay đổi việc làm tìm mức lương khá hơn, hoặc doanh nghiệp tăng đầu tư để mở rộng thị trường. Cho dù nâng giá cả hàng hoá nhưng đây lại là dấu hiệu của sự phát triển lành mạnh. Lạm phát lại còn giúp thu ngắn thời gian trả các món nợ dài hạn vì lãi suất thường ở mức cố định trong lúc tiền lương hay mức thu nhập tăng theo giá cả thị trường, nên dân chúng hay nhà nước dễ dàng thanh toán nợ củ.

Trái lại trong hoàn cảnh suy thoái dân chúng tiêu xài tằng tiện nên doanh nghiệp không dám tăng giá hàng hoá và cũng không dám đầu tư phát triển, do đó không tạo ra công ăn việc làm mới để giúp nền kinh tế tăng trưởng trở lại. Thất nghiệp còn cao thì dân chúng lại càng dè xẻn tạo thành một vòng xoáy đáng sợ không dễ thoát ra.

Các Ngân Hàng Trung Ương Âu-Mỹ-Nhật đã bơm hơn 4000 tỷ USD vào kinh tế, mục đích cung cấp nguồn tiền dồi dào để giữ mức lời thấp; hy vọng khuyến khích cho dân chúng vay mượn tiêu xài và doanh nghiệp tăng vốn đầu tư; kết quả tạo thêm công ăn việc làm mới để thoát khỏi nạn suy trầm cho dù giá cả gia tăng. Nhưng điều này lại chưa xảy ra vì lạm phát cứ nằm lì ở mức quá thấp trong lúc tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, cho dù lãi xuất ngân hàng đã rất hạ trong suốt một thời gian dài.

Chẳng những tình trạng nói trên ngoài dự đoán của đa số mà nhiều người lại còn e ngại đã bơm thêm hai bong bóng mới: lãi xuất quá thấp buộc dân chúng không thể giữ tiền tiết kiệm trong ngân hàng mà phải đổ vào đầu tư chứng khoáng hoặc địa ốc để tìm một ít lời, khiến cho giá cả hai khu vực này tăng vọt trong lúc nền kinh tế chỉ hồi phục yếu ớt hay chưa vực dậy.


Có hai lý do khiến giá cả không lên cho dù các Ngân Hàng Trung Ương đã bơm hàng ngàn tỷ USD: (1) những công ty Âu-Mỹ-Nhật mỗi ngày tăng thêm hiệu năng nhờ vào kỷ thuật điện toán và tự động hoá nên giữ được giá thành thấp mà không cần mướn thêm nhân công (2) song song đó khu vực sản xuất lớn nhất trên thế giới gồm Trung Quốc và các nước đang phát triển phải kềm giữ giá thành để hổ trợ xuất cảng trong khi sức mua của Tây Phương còn đang giảm mạnh.

Một cách nhìn khác là chúng ta đang chứng kiến trò chơi kéo co: chính quyền Âu-Mỹ-Nhật bơm tiền nhằm tạo áp lực lạm phát (inflationary pressure); trong khi đó doanh nghiệp cùng các nước đang phát triển buộc lòng phải kềm giá dẫn đến áp lực giảm phát (deflationary pressure). Kết quả là 5 năm sau khủng hoảng kinh tế Tây Phương vẫn chưa hồi phục trong khi Trung Quốc và các nước đang mở mang gặp nhiều khó khăn.

Hoa Lục vào năm 2008-09 tung ra khối kích cầu khổng lồ để bù đắp cho khoảng trống xuất cảng hàng hoá sang Âu-Mỹ vốn bị sút giảm mạnh. Kết quả là Trung Quốc dù không rơi vào khủng hoảng nhưng bơm lên bong bóng địa ốc và tình trạng đầu tư cẩu thả khiến tổng số nợ trong nước lên khoảng 150%-200% GDP. Đến nay Bắc Kinh đang trong tình trạng trên đe dưới búa: xuất cảng không tăng nên không dám tăng quyền lợi công nhân vì e sợ nâng giá thành và mất tính cạnh tranh; nếu tăng mức đầu tư công (bù đắp cho lổ hỏng xuất cảng) sẽ khiến lạm phát lên cao trong lúc lương công nhân không tăng tạo ra bất mãn trong dân chúng. Cách thoát duy nhất là nâng mức tiêu thụ nội địa để bù đắp cho xuất cảng và đầu tư công giảm sút, nhưng muốn vậy phải (1) tăng mức lương bổng, và (2) tăng chi trong an sinh xã hội để dân chúng bớt dành dụm cho hưu trí, sức khoẻ và giáo dục con cái - nhưng cải cách theo lối này thì tăng trưởng lại rơi xuống dưới mức 7%.

Bài toán kinh tế thế giới thật lòng vòng phức tạp với nhiều liên hệ chằn chịt nên khó giải quyết. Liều thuốc cho Âu-Mỹ-Nhật và Trung Quốc đôi khi đối nghịch, có lúc lại hổ tương lẫn nhau. Tây Phương phải cắt giảm trong lúc Hoa Lục cần nâng cao các quyền lợi an sinh xã hội. Tây Phương phải tăng sản xuất trong khi Hoa Lục cần nâng tiêu thụ nội địa. Điều khó là cho dù các chuyên viên kinh tế đồng ý về biện pháp nhưng muốn biến thành chính sách lại gặp nhiều chống đối từ quần chúng hay các khối lợi ích nên không áp dụng được.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.