Hôm nay,  

Chuyện Hồi Ký Gates

21/01/201400:00:00(Xem: 9149)
...Hầu hết dân cử, Dân Chủ hay Cộng Hoà, đều bất tài, giả dối... chỉ lo cho cái ghế của mình thôi...

Truyền thông cả tuần nay xôn xao vì cuốn hồi ký của ông Robert Gates, vừa được phát hành tuần trước, nhưng các báo đã có bản thảo từ trước nên đã trích dẫn nhiều đoạn cho thiên hạ biết trước, cũng như chính ông Gates cũng đã viết vài bài báo và lên truyền hình để giới thiệu cuốn sách.

Ông Gates là cựu bộ trưởng Quốc Phòng, được TT Bush bổ nhiệm thay thế ông Donald Rumsfeld năm 2007, sau đó được TT Obama lưu nhiệm cho đến 2011. Mặc dù là đảng viên Cộng Hoà đã từng giúp việc đắc lực các chính quyền Cộng Hoà từ Reagan đến Bush cha và con trong những trách nhiệm lớn như giám đốc CIA, nhưng ông là người nổi tiếng không phe đảng, có uy tín lớn trong chính trường. Sự bổ nhiệm của ông dưới cả hai thời Bush và Obama đã được Thượng Viện thông qua dễ dàng do hậu thuẫn của thượng nghị sĩ của cả hai chính đảng. Sau khi từ chức, ông đã được TT Obama tuyên dương và tưởng thưởng với huy chương Medal of Freedom, là huy chương cao quý nhất dành cho một nhân vật dân sự.

Hồi ký của ông Gates dầy hơn 600 trang, hiện còn đang được truyền thông và các sử gia nghiên cứu từng chi tiết. Kẻ viết này chưa được đọc. Nhưng một số chi tiết chính đã được phổ biến và bàn tán rất rộng rãi.

Hồi ký gây náo động chính trường mấy ngày qua vì đã có những lời bàn bất lợi rất nặng cho TT Obama và nội các của ông. Đại khái, xin liệt kê một số chuyện ông Gates tiết lộ dưới đây.

- TT Obama được tư lệnh chiến trường Afghanistan khẩn báo cần đôn quân. Sau khi câu giờ cả mấy tuần, mới lấy được quyết định đôn quân tương tự như TT Bush đã đôn quân tại Iraq trước đây. Nhưng lại chỉ là quyết định kiểu nửa chừng xuân, cung cấp cho vị chỉ huy tại Afghanistan thêm 30.000 quân thay vì 60.000 như được yêu cầu. Ông Gates nhận định TT Obama “không tin tưởng ở các tướng chỉ huy chiến trường, không chịu được TT Karzai của Afghanistan, không tin tưởng vào chính chiến lược của mình,… Đối với tổng thống, tất cả chỉ là chuyện làm sao rút ra cho nhanh”.

- TT Obama đã từng phân chia hai cuộc chiến: một cuộc chiến mà ông gọi là “sai lầm” ở Iraq mà ông muốn rút ra càng sớm càng tốt bằng mọi giá, và cuộc chiến “cần thiết” tại Afghanistan để tiêu diệt Al Qaeda bảo vệ nước Mỹ. Nhưng ngay cả cuộc chiến tại Afghanistan này cũng đi ngược lại quan điểm chủ hoà chống mọi chiến tranh của TT Obama. Do đó đây là một cuộc chiến miễn cưỡng, cho dù ông hô hào cần diệt Al Qaeda và chấp nhận đôn quân, chủ đích thật sự của TT Obama vẫn là … tháo chạy.

- Thái độ của TT Obama trong nội bộ lộ rõ nét đến độ đại sứ Mỹ tại Afghanistan, tháng Chạp năm 2012 đã tuyên bố “chúng tôi có một chính sách rõ ràng tại Afghanistan, nhưng cái không rõ ràng là không biết chúng tôi có đang áp dụng chính sách đó hay không” và “tôi cũng không thể khẳng định chúng tôi thật sự muốn xây dựng một quân lực Afghanistan hùng mạnh, hay chỉ muốn có một khoảng thời gian coi được –decent interval- để rút”. Đọc đến câu “decent interval” chắc không ít người Việt chúng ta sẽ nhớ đến cuốn sách của một cựu CIA ở VN mô tả chính sách của Kissinger đối với cuộc chiến tại VN và hiệp định Paris.

- TT Bush là người có tư tưởng dứt khoát, tin tưởng tuyệt đối vào chính nghiã và sự cần thiết của cả hai cuộc chiến. Do đó, đối với các quân nhân tham chiến, TT Bush thật sự có sự quan tâm và tình cảm của ông thể hiện rõ ràng khi ông tiếp cận với các quân nhân đang chiến đấu và các thương binh, cũng như gia đình các quân nhân bị tử thương. Trong khi đó, vì không hoàn toàn tin vào cuộc chiến, TT Obama lộ rõ sự thiếu nhiệt tình với các quân nhân. TT Bush cũng gần như tin tưởng tuyệt đối vào ý kiến của các tư lệnh chiến trường, nhưng TT Obama thì tuy tôn trọng các tướng lãnh chỉ huy chiến trường, nhưng luôn để tâm nghi ngờ họ đã không báo cáo tình hình một cách trung thực, mà báo cáo theo kiểu có lợi cho họ nhất. Dưới thời TT Obama, viên tướng tư lệnh McChrystal đã có thái độ bất kính đến độ bị TT Obama cách chức.

- Trên phương diện quản trị bộ máy chính quyền, TT Obama cầm đầu một guồng máy mà ngay từ đầu chỉ có mục đích tối hậu là bảo đảm TT Obama tái đắc cử trong cuộc bầu lại năm 2012. TT Obama là người tính toán rất kỹ, mọi quyết định đều phải được cân nhắc dưới khiá cạnh chính trị này. Tất cả guồng máy chính quyền được kiểm soát cực kỳ chặt chẽ và chi tiết nhất từ Tòa Bạch Ốc. Tất cả mọi quyết định của nhân viên nội các đều phải thông qua Toà Bạch Ốc. Ngay cả cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan cũng được điều hành từ Toà Bạch Ốc. Vấn đề là ban tham mưu của TT Obama hầu hết đều là tay mơ, chẳng chút kinh nghiệm chính trị hay quân sự thực tiễn nào. Bộ trưởng Gates lên tiếng rất ngỡ ngàng khi thấy các phụ tá trẻ măng không một ngày đi lính của TT Obama bốc điện thoại ra lệnh hay thậm chí sỉ vả các tướng lãnh ba bốn sao, tư lệnh chiến trường, một chuyện mà dưới bất kỳ tổng thống nào khác, mấy anh phụ tá đó sẽ mất job ngay.

- Ông Gates có nhận định chung về các tổng thống mà ông đã phục vụ. Ông cho rằng tất cả các tổng thống Nixon, Ford, Carter, Reagan, Bush cha, và Clinton đều là những người thật tâm có lòng đối với đất nước, cho dù chính sách họ có khác biệt. TT Bush con là một lãnh tụ chín chắn –mature leader- có can đảm lấy quyết định đôn quân tại Iraq trước sự chống đối của các cố vấn, nội các và ngay cả các tướng tại Bộ Quốc Phòng, vì ông có lòng tin vào các tư lệnh chiến trường và tin vào chính nghiã của cuộc chiến. Ông sẵn sàng mang uy tín cá nhân, sự nghiệp chính trị, tên tuổi trong sử sách ra đánh cuộc với quyết định đôn quân tại Iraq mà ông cho là đúng. Riêng TT Obama, có vẻ như chỉ lo cho chuyện tái đắc cử của mình.

- PTT Biden bị chỉ trích nặng nhất, vì được mô tả như một người đã “sai lầm trong tất cả các chính sách đối ngoại quan trọng trong suốt hơn 40 năm qua”. Tháng Chạp 2011, PTT Biden buột miệng tuyên bố “Taliban không phải là kẻ thù của Mỹ”, khiến một viên chức cao cấp của Afghanistan lên tiếng thắc mắc “vậy thì lính Mỹ đến đây làm gì, sao lại tấn công chính quyền Taliban của Afghanistan?”. Ngay cả một sĩ quan Mỹ đang tham chiến tại đây cũng đặt câu hỏi “vậy tại sao ra lệnh chúng tôi bắn giết họ? Tại sao chúng tôi phải chấp nhận mạng sống bị đe dọa?”.

- Cựu Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng bị kể lại là bà đã quyết định chống lại cuộc đôn quân của TT Bush tại Iraq vì khi đó bà đang tranh cử tổng thống tại Iowa và bà có nhu cầu lấy hậu thuẫn của cánh tả phản chiến trong đảng Dân Chủ. Nói cách khác, tất cả cũng chỉ có mục tiêu kiếm phiếu chứ không phải vì quyền lợi của nước Mỹ hay vì sự thành bại của cuộc chiến và mạng sống của quân nhân Mỹ. Bà Hillary đã đích thân nói thẳng thừng ý kiến này với TT Obama trước mặt bộ trưởng Gates, khiến ông này bối rối không biết phản ứng như thế nào. Điểm này chắc chắn sẽ được mang ra tranh cãi khi bà Hillary quyết định ra tranh cử tổng thống trong kỳ bầu tới.

- Những chỉ trích nặng nề nhất của ông Gates được dành cho các vị dân biểu và nghị sĩ, mà theo ông, tất cả chỉ là mần tuồng trống rỗng, nói một đằng làm một nẻo. Đặc biệt, trong khi tất cả các vị dân cử lớn tiếng chỉ trích các chi tiêu phung phí, kêu gọi giảm chi, kể cả giảm chi phí quốc phòng, đóng cửa bớt các căn cứ quân sự không cần thiết hay cắt bỏ một vài loại vũ khí quá tốn kém, nhưng khi phải lấy quyết định cụ thể thì chẳng ông bà nào chấp nhận những cắt xén đụng đến cử tri của mình. Trái lại, ông bà nào cũng không bỏ qua cơ hội điện thoại riêng áp lực lên bộ trưởng quốc phòng để giúp cử tri của mình, tức là giúp chính mình, kể cả hai lãnh tụ Cộng Hoà và Dân Chủ trong thượng viện, các ông Harry Reid và Mitch McConnell.


- Ông Gates mô tả những cuộc điều trần trước quốc hội như những vụ hành hình vô bổ, chỉ là nơi các vị dân cử biểu diễn trước máy truyền hình, nói dông dài chuyện không đâu chỉ cốt lấy điểm với cử tri. Hầu hết các vị dân cử, Dân Chủ hay Cộng Hoà cũng vậy, đều bất tài, thiếu khả năng, giả dối, bất lịch sự, không lo cho quyền lợi đất nước mà chỉ lo cho cái ghế của mình thôi. Đã có nhiều lần ông Gates chỉ muốn cắt ngang các cuộc điều trần, từ chức tại chỗ vì bực mình.

- Ông Gates tuy là bộ trưởng Quốc Phòng, nhưng lại nhận định đối thủ khó trị nhất của ông chính là Bộ Quốc Phòng, một guồng máy thư lại cực kỳ nặng nề, trong đó quyền lợi phe nhóm trấn áp mọi quyết định. Các dân biểu, nghị sĩ từ liên bang đến địa phương, thống đốc, các đại diện các khối áp lực, các tướng lãnh,... đấu tranh chống nhau quyết liệt vì quyền lợi phe nhóm khi ngân sách của Bộ Quốc Phòng chiếm phần lớn nhất trong ngân sách quốc gia.

- Liên quan đến tin quốc tế, ông Gates cũng tiết lộ TT Obama đã ngăn không cho TT Đại Hàn Lee Myung Bak thả bom Bắc Hàn trả đũa vụ Bắc Hàn dội bom một hòn đảo Nam Hàn năm 2010 vì sợ gây ra chiến tranh tại đây.

Phải nói ngay, hồi ký của ông Gates đầy mâu thuẫn. Trong một cố gắng quân bằng quan điểm, ông đã nhiều lần ca tụng tất cả những người ông chỉ trích, từ TT Bush đến TT Obama, PTT Biden và bà Hillary luôn. Trong khi ông chỉ trích TT Obama đủ chuyện thì ông lại khẳng định ủng hộ tất cả những quyết định của TT Obama và khen quyết định đột kích giết Bin Laden là quyết định can đảm nhất ông đã thấy nơi một tổng thống. Trong khi ông chê PTT Biden sai lầm liên tục, thì ông lại xác nhận ông chia sẻ quan điểm với PTT Biden trên hầu hết mọi vấn đề. Ông chỉ trích bà Hillary chỉ biết lo đếm phiếu, nhưng lại ca tụng bà sẽ là một tổng thống giỏi. Ông chỉ trích quốc hội nặng nề, nhưng lại khen đa số các vị dân cử đối xử rất tử tế với ông. Người ta chỉ có thể hiểu quan điểm thực của ông Gates qua những chuyện cụ thể ông nêu ra, chứ không thể tin được những lời ca tụng chung chung, có vẻ như là những lời nói vớt vát không mấy ý nghiã.

Dĩ nhiên, chuyện các chính khách Mỹ hấp tấp viết hồi ký bôi bác các thượng cấp hay đồng sự của mình để thu tiền bán sách, hay để tự biện minh trong khi chuyện thời sự còn nóng hổi, là chuyện thường tình trong hý trường chính trị Mỹ. Trước đây, TT Bush đã lãnh đủ hồi ký của cựu bộ trưởng Tài Chánh Paul O’Neill, cựu phát ngôn viên Scott McClellan, cựu cố vấn chống khủng bố Richard Clarke,… TT Clinton cũng lãnh đủ từ phụ tá thân cận nhất George Stephanopoulos. Nhưng hồi ký của ông Gates có điểm đặc biệt là ông là người phục vụ cho 8 vị tổng thống, cả Cộng Hoà lẫn Dân Chủ, tức là tính phe đảng ít nhất, không như mấy người phụ tá vừa nêu của các TT Bush và Clinton.

Chính vì uy tín cá nhân rất lớn của ông Gates nên những chỉ trích của ông trở thành nặng ký nhất. Và dĩ nhiên truyền thông phe ta cũng đã tấn công ông Gates mạnh hơn bao giờ hết. Họ chiả mũi dùi vào sự kiện hồi ký của ông Gates chỉ trích TT Obama được xuất bản khi TT Obama vẫn còn tại chức, và cho đó là hành động thiếu tự trọng –dishonorable. Truyền thông dòng chính quên một điều là cả ba cuốn hồi ký của ba phụ tá của TT Bush nêu trên đều được phát hành khi TT Bush cũng còn đang tại chức. Hồi ký của các ông O’Neill và Clarke phát hành năm 2004 trong khi hồi ký của ông McClellan phát hành đầu 2008. Cả ba người đều mạt sát TT Bush không nương tay. Khi đó, không thấy báo phe ta nào chê mấy ông đó là “dishonorable” mà chỉ thấy ca ngợi họ đã dám nói lên sự thật. Thế mới thấy truyền thông dòng chính phe đảng như thế nào.

Được hỏi về cuốn hồi ký, TT Obama, qua phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, chỉ vắn tắt đề cao những đóng góp trước đây của bộ trưởng Gates, cũng như giải thích TT Obama chủ trương dùng các phụ tá có khác biệt ý kiến để có thể thu thập ý kiến một cách rộng rãi. Chưa thấy PTT Biden và cựu ngoại trưởng Hillary Clinton có phản ứng gì.

Nói chung, thái độ của TT Obama đối với hai cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan, theo như sự trình bày của ông Gates, không có gì đáng ngạc nhiên, mà chỉ là xác nhận những gì mọi người đã nghĩ. TT Obama trong thâm tâm, bất kể những lời tuyên bố đủ kiểu, chỉ muốn chấm dứt hai cuộc chiến này, và đã tìm đủ mọi cách chấm dứt và rút lính Mỹ về, càng sớm càng tốt.

Những người chủ hoà sẽ hoan hô thái độ này của TT Obama dĩ nhiên. Nhưng có lẽ họ quên rằng vấn đề không giản dị như vậy.

Trong cuộc chiến tại Việt Nam, dù sao thì quân CSBV cũng không đe dọa lãnh thổ Mỹ hay quyền lợi gì của Mỹ tại Đông Nam Á hay bất cứ nơi nào khác. Mỹ có rút quân ra khỏi Việt Nam thì chỉ có dân Việt là bị thiệt hại nặng thôi, không sứt móng chân nào của Mỹ, ngoài việc mất uy tín chính trị dĩ nhiên. Nhưng hai cuộc chiến tại Trung Đông hoàn toàn khác. Đây là hai cuộc chiến chống khủng bố, nhằm tiêu diệt các lực lượng khủng bố, hay ít ra không cho các lực lượng này đất dung thân, luyện tập quân khủng bố, chế tạo vũ khí, làm bàn đạp để trực tiếp tấn công vào Mỹ như vụ 9/11.

Nếu như Mỹ không diệt hoàn toàn hay phần lớn sức mạnh của các lực lượng khủng bố thì các lực lượng này lúc nào cũng là một đe dọa trực tiếp lên an ninh của lãnh thổ Mỹ và an toàn cho dân Mỹ.

Việc TT Obama bằng mọi giá hấp tấp chấm dứt hai cuộc chiến, rút quân về đã để lại những hậu quả mà cho đến nay chưa ai dám xác định sẽ là tốt hay xấu cho nước Mỹ trong những năm tháng tới. Chỉ biết là hai cuộc chiến này, tuy đã biến mất khỏi trang nhất các báo phe ta, nhưng thật sự chỉ chấm dứt đối với Mỹ thôi, chứ chưa chấm dứt đối với hai xứ này. Trái lại, hai cuộc chiến có khuynh hướng ngày càng bộc phát mạnh.

Tin mới nhất cho thấy lực lượng Al Qaeda đã chiếm hoàn toàn thành phố Falluja, một trong những cứ điểm chiến lược quan trọng nhất nhì tại Iraq mà quân Mỹ đã tốn không biết bao nhiêu xương máu để bảo vệ, trong khi khủng bố tung bom giết chết hơn 40 người tại hai nơi ngay tại thủ đô Bagdad trong một ngày 13/1 vừa qua. Nội trong một năm 2013, hơn 8.000 người đã thiệt mạng trong cuộc chiến kéo dài này. Chính quyền Iraq, từ thủ tướng Maliki đến đại sứ Iraq tại Mỹ, đã lên tiếng “phàn nàn” về sự phủi tay của chính quyền Obama.

Ngoại trưởng John Kerry đã thẳng thừng tuyên bố “đây là chuyện nội bộ Iraq”. Hãy đợi xem đến khi Al Qaeda lật đổ được các chính quyền yếu ớt của Iraq và Afghanistan xem đây có còn là chuyện “nội bộ” của hai xứ này không, hay lại trở thành một đe dọa trực tiếp lên an ninh Mỹ khi một trong hai xứ này, hai cả hai xứ này, biến thành căn cứ mới của một Al Qaeda tái sinh.

Hy vọng là sẽ không có ngày một tổng thống Mỹ nào đó lại phải ra lệnh thủy quân lục chiến Mỹ trở lại Iraq và Afghanistan để diệt khủng bố. Khi đó, TT Obama có viết bao nhiêu hồi ký để biện giải cũng khó tránh được trách nhiệm với lịch sử. (19-01-14)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.