Hôm nay,  

Sương Bụi Tro Tàn Mrauk U

22/02/201400:00:00(Xem: 7006)
Sương ở Mrauk U dầy nhưng không thành mây. Cũng không phải mây sà thấp để hóa màn sương trắng. Sương ở miền cực tây sơn cùng thủy tận của đất Miến vẫn là sương. Khi nắng lên, sương tan vào đâu. Trời vẫn xanh.

Có những nơi mây xuống thấp thành sương trắng lung lay, như Dharamsala. Nơi đó mây từ rặng Hy Mã đổ về, gió nóng từ miền nam thốc lên nhào mây như nhào bột. Mây bị vây hãm trong bốn bề núi cao, dùng dằng trong thung lũng rồi lẩn quanh vào trời mây. Mây ở Pa-an như sợi chỉ, trời thòng xuống đậu trên ngọn cây trong thửa vườn bồ đề bát ngát.

Trời ở Mrauk U không mây. Sương và trời không mắc mớ gì nhau. Mặt trời nơi đây lên muộn. Bảy giờ sương vẫn sà thấp như chiếc võng. Chiếc võng trắng phau nằm thẳng băng móc một đầu lên ngôi chùa Htuk Kant Thein 443 năm tuổi hình cái chuông úp lên nền đất vuông. Cả ngôi chùa đen sững, đen bóng, không duyên dáng như những ngôi tháp ở Bagan. Cả khối đen nặng nề lầm lũi nổi lên trong màn sương trắng. Khối đen không lạnh lùng, không làm dáng, không những đường nét hoa văn. Như một người kiên quyết chấp nhận định mệnh, khối đen bất chấp ngoại cảnh trắng tinh đang chờn vờn vồ vập xung quanh. Cách vài chục thước là ngôi chùa Sitthaung 80.000 tượng Phật gần 500 năm tuổi. Cũng một khối đen khổng lồ với những ô vuông xung quanh như pháo đài. Cách hai mươi thước là Andaw Thein 416 tuổi, nơi thờ xá lợi Phật. Cả ba ngôi chùa đều đen. Xung quanh có ô vuông nhỏ lấy ánh sáng soi mờ các tôn tượng thiết trí dọc theo bốn dãy hành lang bên trong. Đứng ngoài nhìn vào không khác gì những lổ châu mai.

Khi nắng lên, sương như bị hút vào các lổ châu mai. Trời trong vắt không mây. Những khối đen, không lầm lì cũng không ung dung, nổi trên màu đất đỏ. Nhưng sương trời đi biệt chứ khói bếp nhà ai vẫn ngùn ngụt cuộn lên trời. Mùi than củi lấn hết bầu khí ban mai, nếu không nghe ra mùi khét cứ tưởng sương sớm còn lẩn vẩn. Sương trời như tấm phông rút biệt để bày ra bộ mặt trần gian nơi vùng đất cây cỏ te tua.

Những phụ nữ từ con đường đất bụi, đội ống nhôm đi lấy nước, chen ra linh động trên nền đất, in hình lên những bức tường đen im lìm. Rồi những phụ nữ đội những bó củi mót trong rừng, lầm lũi đi trên đường mòn ra chợ. Nơi vùng đất xa ngắt này, hai thứ quý giá nhất là nước và củi.

Những chấm người nhỏ bé di động không tạo được sự sống nhưng ít ra, khiến ta nghĩ nên đây còn có người. Cuộc sống nhọc nhằn quá. Những bếp than bếp củi, những ống nhôm đựng nước, những bó củi gầy guộc, tất cả đội trên đầu những phụ nữ bé nhỏ, kéo dép lê trên những con đường đất nhỏ. Những ngôi chùa lầm lầm im lặng Những con người lầm lũi bước.
resized-mrauk-u
Sương mù Mrauk U.

Mrauk U, ngày đầu đã cho tôi cái cảm tưởng là một nơi không phiền não không hạnh phúc, không khóc không cười. Một chút hoang sơ buồn thiu, gần gần với man dại nơi những đôi môi rộng ngoắc lên ở hai đầu mép. Đôi mắt người to đen thản nhiên nhưng không lạnh lùng. Tôi – những ngôi chùa đá đen – không than trách không cảm thán gì thời gian, cứ như chuyện thế gian chuyện trời chuyện đất cuộc sống là như thế.

Sau một tuần trốn chỗ sơn cùng, tôi tưởng sẽ rời Mrauk U suông sẻ. Nhưng không, chiếc tàu hướng về nam mắc cạn trong sáng sớm. Sương dầy quá nên thuyền trưởng không thấy đường, chạy thẳng lên bờ. Đứng ngắm sương khói lảng vảng trên mặt nước, nhớ hai câu thơ của Thôi Hiệu qua bản dịch tài hoa của Tản Đà. Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

*

Arakan hay Rakhine, vùng đất cực tây của Miến Điện dọc theo vịnh Bengal. Có vẻ như chỗ đó còn nhiều dấu vết của thần thoại Ấn Độ, những người Arakan dữ dằn bốn ngàn năm trước. Rồi máu lửa trong hai năm 2012 và 2013 vì xung đột chủng tộc. Ba lần xin giấy vào không được. Lần thứ tư, tôi đến được thủ phủ của Rakhine là thành phố Sittwe. Mùng 4 tết Giáp Ngọ. 2014.

Dự tính đi khắp Miến Điện sau gần năm năm mới gọi là thành.

Sittwe nhỏ và buồn. Bờ biển Bengal buổi chiều hiu quạnh, bờ cát đen than chạy vài trăm thước mới tới mép nước. Vài chiếc xe đạp thồ chạy bâng quơ. Tôi ngồi trên thềm biển, cũng trở đầu ngó bâng quơ.

Sittwe không có gì để ở lại lâu. Hôm sau bắt tàu chợ ngược sông Kalenda lên Mrauk U. Chiếc tàu cũ kỹ như những chiếc tàu chợ khác khắp Miến Điện, cũng người đội thúng bán bưng nằm ngồi la liệt trên sàn. Tìm một chỗ ngồi khuất gió, ngắm hàng trăm con hải âu trắng soải cánh bay tà tà quanh tàu cả tiếng đồng hồ từ khi tàu tách bến.

Mrauk U như vùng đất thần thoại, chỉ cách Sittwe hơn nằm giờ tàu thủy. Nơi đây có ngôi chùa 80.000 tượng Phật. Có ngôi chùa 90.000 tượng Phật. Và điểm hành hương nổi tiếng nhất là chùa Mahamuni, nơi Đức Phật dừng chân và người dân Arakan xin tạc tượng ngài bằng vóc dáng người thật.

Tôi đến Mrauk U như người đi trong chiêm bao đến vùng đất thần thoại không ngập tràn ánh sáng mà bao phủ trong màn sương cổ tích. Dòng sông yên ả, không dữ dội tuôn tràn như Irrawaddy mùa nước lớn. Hai bờ thinh lặng, những con cò trắng lẻ loi ngó quanh quất. Cả một sông cảnh yên bình.


Thành phố, hay vùng đất mà chính quyền Miến chắc cũng muốn quên, từng là kinh đô của hai vương triều phồn thịnh, giờ chìm trong bụi mờ. Một chiếc xe đạp đi qua cũng cuộn lên những lốc tròn ngột ngạt. Những ngôi nhà chìm trong bụi. Tấm trải giường trong nhà khách rẻ tiền phớt lớp bụi mờ. Mọi con đường đều cong và lồi đá. Một vùng đất đang tàn lụi trong cô liêu nằm sát biên giới Bangladesh. Nơi vua Mahataing Chandra thành lập vương quốc Vesali năm 327. Cả hoàng thành giờ chỉ còn một dãy gạch thấp hơn bờ ruộng. Nhưng cũng tại phía bắc của vương thành này hơn hai ngàn năm trăm năm trước, Phật Thích Ca đã dừng chân trên núi Thalagerg. Pho tượng Thích Ca bằng vàng lừng danh ở Mandalay được tạc vào thời Đức Phật tại ngôi làng Shinkyawmunei cách núi Thalagerg chừng hai mươi cây số. Đến thế kỷ 18 tượng bị một ông vua cướp mang về Mandalay. Người Arakan cam chịu thua cuộc, tạc một tôn tượng khác nhỏ hơn để tôn trí nơi Đức Phật dừng chân. Ngôi chùa này chỉ cách Mrauk U 50 cây số nhưng không đông đúc như chùa Mahamuni ở Mandalay.

Tôi bắt bọn để mướn xe jeep và đi đò lên Chin, tiểu bang thứ 14, điểm cuối cùng cho trọn lộ trình Miến Điện toàn tập. Một ông giáo sồn sồn người Thụy Sĩ dạy tiếng Pháp và Đức nhưng rất ghét người Đức. Miến Điện là nước thứ 85 ông ta đến nhưng càng đi càng thấy người Đức khó chịu, khinh người, rặt đầu óc phát-xít. Một ông già người Úc làm quản lý một nhà hàng lâu đời nhất Sydney. Ông già cực kỳ vui tính, nhà khách không có nước lạnh giữa trời 15 độ C thì ba ngày tắm một lần cũng không chết. Một chàng tuổi trẻ người Ba Lan mới xong đại học, làm hướng dẫn viên du lịch cho người Ba Lan qua Trung Quốc nhờ chàng biết tiếng Tàu. Người Tàu chỉ giỏi sao chép, coi chữ viết của họ cũng biết vì sao, cứ copy cho đúng hình thù sự vật rồi làm chữ viết, chùa thì cái nào cũng mái cong cong có rồng chầu. Tại cái chữ viết của họ khiến người Tàu sáng tạo không nổi. Ý kiến ngồ ngộ của chàng Ba Lan khiến con đường dồng sốc lên bang Chin ngắn bớt. Rồi bỏ xe, mướn đò đi ngược sông Lay Mro như dài bất tận.

Chúng tôi đến mấy ngôi làng người Chin, căn nhà sàn nào cũng te tua mái lá vách tre. Họ trồng một ít đậu phộng, dưa hấu, vài cây xoài và me tơi tả trong bụi. Ghé hai ngôi trường tiểu học phát kẹo và bong bóng. Nơi đây phụ nữ lớn tuổi còn xăm mặt. Một bà cụ 73 tuổi bị một cái cây chọc vào mắt muốn lòi tròng, gặp “đám Tây” cụ xin thuốc nhỏ mắt nhưng không ai đem theo. Chúng tôi đi là rà mấy hàng quán trong làng, đến cái “siêu thị” thứ ba thì tìm được một chai thuốc nhỏ mắt Miến Điện to gần bằng chai bia lùn. Ông giáo Thụy Sĩ, từng làm cho Chữ Thập Đỏ Quốc tế ở châu Phi bốn năm, nói: Cũng chịu thôi. Ừ, người Việt gọi là phước chủ may thầy.

Người ở Mrauk U làm thuê làm mướn (nhưng tuyệt không đào tường khoét vách) đủ đường để sống. Người Chin sống cạnh sông. Sinh kế của họ là nuôi heo mọi, lặn xuống lòng sông lượm đá và vào rừng chặt tre để đổi lấy gạo tiền với người Mrauk U văn minh. Bang Chin, giáp cả Bangadesh và Ấn Độ, lọt thỏm giữa núi rừng. Những ngôi làng chỉ nghe tiếng lá, và từng bầy con nít lấm lem chạy tung bụi mờ.

Nơi đây là vùng đất để thủ. Thế đất dựa vào núi, những ngọn đồi thấp, như con thú rừng ngồi xổm trông ra vịnh Bangal. Những người Rohinya vô thừa nhận sống lẩn lút trong rừng gần biên giới Bangladesh. Cả những ngôi chùa cũng xây theo kiến trúc phòng thủ, tường đá dầy kiên cố đủ sức chịu đựng súng thần công. Cung điện ngày xưa giờ toàn gạch vụn. Nhưng trong một mảnh đất nhỏ của di tích kinh thành Vesali còn sót lại, có ba cây sứ già, thật già, gốc to vài thước, những chiếc cành toe ra như những lọn tóc thắt bím không có một lá cây nào. Cả ba thân cây đều khô khốc, trắng bệch và rúm ró tưởng chừng không còn chút sự sống. Nhưng trên những đọt cao lại ẩn hiện vài bông sứ trắng nhỏ bằng bông cau.

Có vẻ như người Arakan ở Mrauk U, những ngôi chùa ở Mrauk U, những con đường bụi ở Mrauk U, và những thân hình bé nhỏ đội nước đi giữa trời Mrauk U chưa hoàn toàn khánh kiệt, như những bông sứ trắng trổ từ thân cây già.

Vẫn ra hoa cho tròn phận sự.
Dù đã mỏi mệt lắm rồi.


Tôi không hiểu sao mình lại đến chốn này. Mấy năm liền tưởng nhớ một vùng đất trong tâm tưởng. Đi coi lại cái đã mất chứ không tìm lại dĩ vãng (làm chi). Cứ như nhìn một ngôi sao lớn trên bầu trời gần sáng, một vầng trăng khuyết thượng tuần tháng Giêng, những ngọn đồi khô lấm bụi vàng, rồi khí trời đất đá thở ra, tất cả trộn vào nhau, nhào nặn từ càn khôn hàng thiên niên kỷ trước, khi tôi đến, chạm vào thì tất cả vỡ tan thành tro bụi. Những hạt bụi ấy mang biết bao dòng sinh mệnh buồn vui, trở về không.

Trên sườn núi Thalagerg vắng tanh, tôi ngồi ngắm màu vàng sẫm của hoàng hôn phủ xuống những ruộng đồng khô khốc gốc rạ. Đã đến nơi sơn cùng thủy tận. Đã khắp cùng đất nước hình ngọn lửa. Thả nhẹ lần cuối chút tro than của mẹ nơi Đức Phật dừng chân ngày nào. Bụi đã trở về với đất. Mùa xuân không còn nữa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tây Bắc hay Tây Nguyên thì cũng chừng đó vấn đề thôi: đất đai, tôn giáo, chủng tộc… Cả ba đều bị nhũng nhiễu, lũng đoạn tới cùng, và bị áp chế dã man tàn bạo. Ở đâu giới quan chức cũng đều được dung dưỡng, bao che để tiếp tục lộng quyền (thay vì xét sử) nên bi kịch của Tây Nguyên (nói riêng) và Cao Nguyên (nói chung) e sẽ còn dài, nếu chế độ toàn trị hiện hành vẫn còn tồn tại...
Bữa rồi, nhà thơ Inra Sara tâm sự: “Non 30 năm sống đất Sài Gòn, tôi gặp vô số người được cho là thành công, thuộc nhiều ngành nghề, đủ lứa tuổi, thành phần. Lạ, nhìn sâu vào mắt họ, cứ ẩn hiện sự bất an, lo âu.” “Bất an” có lẽ không chỉ là tâm trạng của người Sài Gòn mà dường như là tâm cảm chung của toàn dân Việt – không phân biệt chủng tộc, giới tính hay giai cấp nào ráo trọi – nhất là những kẻ sắp từ giã cõi trần. Di Cảo của Chế Lan Viên và di bút (Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất) của Nguyễn Khải, theo nhận xét của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, chỉ là những tác phẩm “cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã sử dụng).”
Tập Cận Bình tin rằng lịch sử đang dịch chuyển theo hướng có lợi cho mình. Trong chuyến thăm Vladimir Putin tại Matxcơva vào tháng 3 năm ngoái, nhà lãnh đạo Trung Quốc nói với Tổng thống Nga rằng “Ngay lúc này, chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi chưa từng thấy trong 100 năm qua, và chúng ta đang cùng nhau thúc đẩy sự thay đổi ấy.”
Sau 20 năm chiêu dụ Kiều bào về giúp nước không thành công, đảng CSVN lại tung ta Dự án “Phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới” vào dịp Tết Nguyên Đán Giáp Thìn 2024. Đây là lần thứ tư, từ khi có Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26 tháng 3 năm 2004, một Quyết định nhằm mưu tìm đầu tư, hợp tác khoa học, kỹ thuật và tổ chức các Hội, Đoàn người Việt ở nước ngoài, đặt dưới quyền lãnh đạo của đảng CSVN được tung ra...
Khi số lượng di dân vượt biên bất hợp pháp qua biên giới Hoa Kỳ-Mexico tăng cao kỷ lục, câu hỏi quan trọng được đặt ra là: Làm thế nào mà Hoa Kỳ lại rơi vào tình trạng này, và Hoa Kỳ có thể học hỏi những gì từ cách các quốc gia khác ứng phó với các vấn đề an ninh biên giới và nhập cư. Chào đón công dân nước ngoài đến với đất nước của mình là một việc khá quan trọng để giúp cải thiện tăng trưởng kinh tế, tiến bộ khoa học, nguồn cung ứng lao động và đa dạng văn hóa. Nhưng những di dân vào và ở lại Hoa Kỳ mà không có thị thực hoặc giấy tờ hợp lệ có thể gây ra nhiều vấn đề – cho chính bản thân họ và cho cả chính quyền địa phương bởi tình trạng quá tải không thể kịp thời giải quyết các trường hợp xin tị nạn tại tòa án nhập cư, hoặc cung cấp nơi ở tạm thời và các nhu cầu cơ bản khác. Mà tình trạng này hiện đang xảy ra ở rất nhiều nơi ở Hoa Kỳ.
Trên vai những pho tượng trắng trong vườn Lục Xâm Bảo, lá vàng đã bắt đầu rơi lất phất. Mùa Thu Paris thật lãng mạn. Henry Kissinger đi dạo quanh một hồ nhỏ ở ngoại ô gần Rambouillet. Nơi đây từng cặp tình nhân đang nắm tay nhau bên những cành cây la đà bóng hồ. Ông thấy lòng mình nao nao (melancholic) vì sắp tới phiên họp quan trọng nhất với ông Lê Đức Thọ.
Tôi nghe nhiều người tỏ ý bi quan về hiện cảnh cũng như tương lai (đen tối) của Việt Nam. Dân tộc nào, số phận đó. Một đất nước có những người viết sử và làm luật (cỡ) như ông Dương Trung Quốc thì… đen là phải!
Việt Nam bước vào năm Giáp Thìn 2024 với gánh nặng tham nhũng và một đội ngũ “không nhỏ” cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức lối sống. Đó là cảnh báo của người đứng đầu đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, trong cuộc phỏng vấn đầu năm của Thông Tấn Xã Việt Nam...
Từ thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, Triết gia Mạnh Tử (372-289 BC) của Trung Hoa đã nói rằng, “Dân là quý, thứ đến đất nước, rồi tới vua.” Điều đáng nói là Mạnh Tử là người đi theo học thuyết của Nho Gia vốn chủ trương vua là con ông Trời (Thiên tử) được sai xuống nhân gian để trị quốc an dân, vậy mà cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là tối quan trọng của người dân. Thời hiện đại, công pháp quốc tế đã nêu ba yếu tố chính hình thành một quốc gia: người dân, lãnh thổ và chính quyền. Trong đó, thật ra người dân chính là yếu tố then chốt quyết định. Lãnh thổ nếu không có dân ở, không có người quản trị thì không phải là đất nước của một dân tộc. Chính quyền từ người dân mà ra, bởi vì trước khi một người ra nắm quyền cai trị đất nước thì người đó phải là một người dân của đất nước ấy. Hơn nữa, sự thịnh suy của một quốc gia nằm trong tay người dân.
“Phản động lực” mà người Đài Loan thể hiện trong cuộc bầu cử tổng thống vừa rồi khiến tôi, sau những suy nghĩ miên man về chuyện nước non, lại quay về với bài học yêu nước của thời tiểu học với câu hỏi khó, khiến nhiều học trò gác bút: “Em hãy tìm từ phản nghĩa với ‘tôn đại’.” Trung Quốc càng hung hăng đe dọa bao nhiêu, Đài Loan càng quật cường ngạo nghễ bấy nhiêu. Mà nếu Bắc Kinh ngu ngơ hay vờ vịt không biết gì đến định luật này thì, thầy nào tớ đó, Hà Nội cũng mù tịt hay giả bộ tương tự. Họặc mù tịt như thể đã hoàn toàn miễn dịch trước luật này; hoặc đóng kịch như thể không hề sống trong không gian ba chiều bình thường mà là một môi trường nào đó thiêu thiếu, cơ hồ chỉ… hai chiều rưỡi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.