Hôm nay,  

Nhân & Quả

22/02/201400:00:00(Xem: 8834)
ninh-thuan-vz-3
Nguyễn Ninh Thuận

- Alo! Tâm đã sửa soạn xong chưa, Kim đang trên đường lái xe đến đón Tâm tham dự một buổi diễn thuyết rất bổ ích cho cuộc sống chúng mình…

- Tâm đã sẵn sàng chờ bạn đến đón đây!

Thế rồi chúng tôi vui vẻ đến hội trường để tham dự buổi diễn thuyết. Kim là thành viên cũ của hội nên rành rẽ đường đi nước bước, trong khi Tâm e dè đi theo bạn trong bỡ ngỡ thăm dò… Bước vào phòng ăn thì rất đông các thành viên với nét mặt vui tươi đang ngồi trên những chiếc ghế trước những chiếc bàn vuông đầy ắp thức ăn hấp dẫn… Sau khi Kim giới thiệu tôi với các bạn và hướng dẫn tôi ngồi cạnh một chị tôi chưa quen, nghe đâu chị là một Nha Sĩ, tuy vậy chị ấy vồn vã bắt chuyện làm tôi cảm thấy gần gũi thân mật hơn… Kim đi lấy thức ăn cho tôi dùng bữa tối với không khí vui nhộn đầy tiếng thăm hỏi nhau ân tình… Hơn 1 giờ sau có tiếng mời mọi người vào hội trường làm lễ. Trái hẵn với không khí ở phòng ăn đầy tiếng nói cười lao xao…, ở trong phòng hội im phăng phắt đến nỗi một con ruồi bay qua cũng nghe tiếng vo ve của nó! Buổi dự lễ đầu tiên trong không khí trang nghiêm gây cho tôi một ấn tượng rất tốt cho hội, khác với những buổi lễ mà tôi từng tham dự trong các hội đoàn đầy tiếng lao xao chuyện trò to nhỏ…

Moi người thành kính đứng lên cầu nguyện, sau đó BTC giới thiệu diễn giả lên thuyết trình. Tiếng nói rõ ràng của một vị mặc bộ “ Vét” đen như lan rộng khắp phòng trong khi mọi người lắng nghe. Tôi thích thú uống từng lời chia sẻ của ông vào người như người đi trong sa mạc gặp nước được thỏa thích trong cơn khát nước mong đợi: “ Hôm nay tôi xin nói về đề tài NHẬN & QUẢ qua câu chuyện mà chắc một số người đã nghe và đọc là chuyện “Bài học ngàn vàng“… Ngày xửa ngày xưa có một ông lão đi khắp nơi và nhiều nước rao bán rằng: "Có một bài học đáng giá nghìn vàng", ai bỏ ra một ngàn lượng vàng thì tôi sẽ bán cho cái đạo lý đó... Nhiều người nghe thấy lạ thì tò mò đi theo dò hỏi, tuy nhiên gạn hỏi thế nào ông lão cũng chỉ nói: Ai trả đủ một ngàn lượng vàng thì kẻ đó mới được biết bí mật của bài học . Bởi vậy nhiều người cho là lão bị điên vì họ nghĩ chẳng có bài học nào đắt đến như vậy!. Vì thời đó vài lượng vàng đã quí mà đây giá cả ngàn vàng thì rất quí chỉ có vua chúa mới có thôi!

Ngày ngày ông lão cần mẫn đi như một người bán rong và rồi tiếng rao của lão cũng đến tai nhà vua. Vua ngạc nhiên vội cho cận thần theo dõi và được mật báo rằng ông lão có hành tung như một vị hiền triết - cốt cách khoan thai, đời sống chuẩn mực, đàng hoàng, lời ăn tiếng nói không thừa một chữ, biểu hiện của người siêu phàm thoát tục …

Nhà vua cả mừng bèn giả dạng thường dân đến gặp và hỏi ông lão rằng bài học gì mà lão rao bán đến một nghìn lượng vàng? Ông lão nói: Đây là bài học mà có thể làm cho người ta thoát khỏi những đau khổ của cuộc đời, vượt qua khỏi những lầm lỗi và có thể đạt tới tột đỉnh vinh quang... Nghe xong, nhà vua vẫn còn bán tín bán nghi nên bỏ về, nhưng lòng cứ ray rứt bởi sức hấp dẫn của ý nghĩa bí ẩn của bài học đáng giá ngàn vàng ấy. Rồi nhà vua quyết định mở ngân khố lấy ra một nghìn lượng vàng rồi hạ chỉ mời ông lão vào hoàng cung. Vua nói: Ta chấp nhận hoặc bị lừa mất một nghìn lượng vàng hoặc thật sự sẽ được một bài học vô giá.… Nói đoạn, nhà vua truyền cho quan Thủ ngân chất đủ một ngàn lượng vàng trước mặt ông lão. Nhận đủ số vàng, ông lão cung kính dâng lên đức vua một vuông lụa viết vỏn vẹn 10 chữ: "Phàm làm việc gì, suy nghĩ đến hậu quả của nó". Đọc xong 10 chữ ấy, đức vua có cảm giác như mình đã bị lừa, nhưng lời vua nặng tựa Thái Sơn, nên không kịp rút lại, đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Còn ông lão thì lặng lẽ chất vàng vào túi vải, cung kính vái tạ vua rồi rời khỏi kinh thành.

Từ đó nhà vua cứ bị ám ảnh bởi 10 chữ: "Phàm làm việc gì phải suy nghĩ đến hậu quả" và nếu nhà vua chỉ mua câu nói này với một lượng vàng thì chắc hẵng Người đã quên bài học này từ lâu. Nhưng đằng này, mỗi chữ trị giá tới 100 lượng vàng. Nghĩ vậy, đức vua vừa tức giận, vừa tiếc công quỹ và câu nói nặng ngàn vàng đó đã nhập vào tâm nhà vua tự bao giờ để rồi mỗi khi nhà vua làm việc gì đều suy nghĩ đến hậu quả của nó.

Từ khi đức vua mua “bài học ngàn vàng” thì cả triều đình nhận ra nhà vua thay đổi từng ngày. Đức vua trầm tĩnh hơn, khôn ngoan hơn, công tư phân minh, phân định mọi việc sáng suốt, ngồi trên ngai vàng trong hoàng cung mà đoán định tình hình ở biên cương như thần... Đất nước từ đó bắt đầu cường thịnh, thần dân thì mừng vui vì đời sống được an lành, thịnh vượng. Nhưng chính nhà vua lại không nhận ra điều đó, ông chỉ bị ám ảnh bởi bài học ngàn vàng và Người luôn tự nhủ: Phàm làm việc gì cũng phải suy nghĩ đến hậu quả của nó! Nhờ vậy mà nhân cách nhà vua được tu chỉnh, đức vua không còn là một vị Vua tầm thường kế vị ngai vàng, thích hưởng thụ như ngày xưa mà giờ đây làm việc gì Người cũng suy nghĩ cho dân, cho nước.

Vị vua nước láng giềng hùng mạnh ngạc nhiên thấy vương quốc nhỏ bé cạnh mình sau một thời gian đã trở nên phát triển nên tìm cách thôn tính. Bắt được vua và truy cứu cho ra lẽ và hứa sẽ tha tội nếu biết rõ sự việc… Vua đó đưa ra “bài học ngàn vàng” với tấm vải viết "Phàm làm việc gì phải suy nghĩ đến hậu quả". Suy nghĩ giây lát, vua ra lệnh lui quân vì “Quân bất hí ngôn ” Ra về nhà Vua học theo bài học ngàn vàng nên đất nước càng ngày càng thịnh vượng, dân tình an vui hạnh phúc…”

Sau buổi nghe diễn thuyết chúng tôi ra về trong lòng thấy thới thới và mỗi người mang một ý nghĩ của cuộc sống theo những lời giảng… Tâm phá tan không khí yên lặng với Kim qua lời giảng của thuyết trình viên…

- Qua bài học này chúng ta rút ra bài học Nhân Quả vì “Phàm làm việc gì phải nghĩ đến hậu quả của nó! ” Trồng cây ngọt thì hái được trái lành. Ta trồng cây cam ngọt chẳng hạn, rồi từ đó lấy hạt tốt ra gieo trồng lại theo cấp số nhân thì xã hội sẽ gặt hái vô số cam để góp phần tốt cho sức khỏe con người. Với Tham Sân Si, con người rơi vào vòng tục lụy không lối thoát. Lòng tham vô đáy, tham tiền tham của, tham tình, thanh danh, tham quyền, tham lợi…vì lòng tham này chúng ta làm bất cứ gì để đạt được mục đích với lòng sân hận, trả thù, có khi là gây oán thù, mờ mắt, tội lỗi không lường được hậu quả trước mắt trong si mê lầm lỗi với ý niệm cho ta là phải, việc làm ta đúng không nghe theo lời khuyên chính trực…

- Kim đồng ý với Tâm thông qua Lục căn và Tứ Diệu Đế của nhà Phật !

- Cho Tâm nêu thêm ý tưởng mới xâm nhập qua bài giảng là Tam Đức nữa nhé! Bi, Trí, Dũng của nhà Phật dạy cho chúng ta làm việc gì cũng phải suy xét cẩn thận & lường trước hậu quả của nó! Với lòng Từ Bi, có Trí óc suy xét, không bị lu mờ bởi nhục dục, cái Dũng đưa tới yếu tố quyết định tự quyết không bị mua chuộc bằng tình tiền, địa vị danh vọng… Dũng làm cho trí ta sáng suốt, cân nhắc phải trái, hơn trái hậu quả… Muốn vậy chúng ta phải tu tập, làm công quả, công phu… Bi Trí Dũng khiến chúng ta vượt qua Tham Sân Si. Việc gì chúng ta làm càng nhiều ảnh hưởng nhiều người thì công đức càng lớn…

- Không những thế, dù làm một việc xem ra nhỏ nhặt như đi đường thấy cây đinh, chướng ngại có thể làm chết người, hay một mảnh chai, chúng ta nhặt lên, gói nó cẩn thận càng tốt vất vào thùng rác thì tránh cho người đạp phải sẽ bị thương tích thương tật…

- Tóm lại bình an là căn bản của hạnh phúc!

- Hôm nay chúng mình đã học được những bài học thật bổ ích và biết được biểu tượng Đạo Phật là Bông Sen vì Bông Sen mọc trong bùn lầy mà không bị hoen ố “ gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ”. Ở Bông Sen Nhân & Quả đầy đủ trong bông hoa tinh khiết này!

- Mãi nói chuyện mà đã đến nhà Tâm rồi! Cám ơn Kim tối nay đã đưa Tâm đến dự một đề tài thật hữu ích cho bản thân Tâm và rồi Tâm sẽ chia sẻ với bạn bè thân hữu mình. Tuần tới Tâm sẽ tự lái xe đến nghe những đề tài khác, vì bước đầu Tâm cần Kim giới thiệu, nhưng rồi phải tự mình lo cho mình chứ! Ai rồi cũng phải có sinh hoạt cho riêng gia đình mình, nói nôm na, Kim giúp cho Tâm con trâu và chỉ cho thửa ruộng phải cày cấy, Tâm phải tìm dụng cụ cái cày cái bừa… để đem sức lao động làm cho đám ruộng mình phát triển màu mỡ chớ! Cũng như muốn cho kiến thức mình phát triển về mọi nhận thức ở đời thì phải học hỏi, nghe ngóng, thu lượm điều hay lẻ phải với câu “nhân bất thập toàn”… Một lần nữa cám ơn Kim rất nhiều, chúng mình chia tay nhau nhé! Chúc bạn có nhiều mộng đẹp trong đêm nay…

Nguyễn Ninh Thuận

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.