Hôm nay,  

Địa Phương Nga Mắc Nợ

27/03/201400:00:00(Xem: 7380)
...63 trong số 83 địa phương của Nga còn có thể bị vỡ nợ.

Trong vụ Ukraine với biện pháp chế tài được Liên bang Nga và các nước Tây phương hăm dọa áp dụng với nhau, có một chi tiết kinh tế đáng lưu ý là núi nợ của các địa phương Nga. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về nhược điểm kinh tế và chính trị này của Nga, qua sự phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Khi Liên bang Nga sát nhập bán đảo Crimea và hăm dọa nhiều khu vực của Ukraine thì mâu thuẫn gia tăng giữa Nga và các nước Tây phương. Trong mâu thuẫn này, thế giới theo dõi biện pháp chế tài mà đôi bên sẽ thi thố, với hiệu ứng toàn cầu. Giữa bối cảnh ấy thì hôm 20 vừa qua, hai công ty lượng giá trái phiếu là Fitch và Standard & Poor's đánh sụt mức khả tín của tín dụng Nga và còn dự báo nạn suy trầm kinh tế của Nga. Khi đó, ta nhớ lại là trong chương trình vào đầu Tháng Ba, khi nói về hiệu ứng kinh tế của vụ Ukraine ông nhắc tới việc 63 trong số 83 địa phương của Nga còn có thể bị vỡ nợ. Vì vậy, kỳ này xin đề nghị ông giải thích chuyện vỡ nợ đó cho thính giả của chúng ta. Trước hết là về các địa phương Nga, thưa ông, đấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nước Nga theo thể chế liên bang khá đặc biệt. Tính đến ngày 18 Tháng Ba tuần trước thì họ có 85 địa phương, gọi là "chủ thể liên bang". Trong số này, hai chủ thể mới là "Cộng hoà Crimea" trong ngoặc kép và Thành phố Liên bang là Sevastopol trong bán đảo Crimea, vừa do Liên bang Nga cưỡng đoạt của Ukraine nên không được quốc tế công nhận. Nói về tổ chức trước khi thôn tính Crimea thì Liên bang Nga có 83 địa phương, chia làm sáu loại, gồm 21 Cộng hoà, chín vùng lãnh thổ gọi là "krais", 46 tỉnh gọi là "oblasts", hai thành phố liên bang, một "oblast" tự trị của dân Do Thái và bốn khu tự trị gọi là "okrugs". Chúng ta sẽ đơn giản gọi chung là "các địa phương" để thính giả khỏi nhức đầu.

- Chi tiết thứ hai đáng nhớ là trên lãnh thổ quá rộng, trải lên chín múi giờ, thì chính quyền trung ương, Phủ Tổng thống hay điện Kremlin, không thể trực tiếp cai trị mà phải tản quyền cho lãnh đạo địa phương, gọi là Chủ tịch nước Cộng hoà hoặc thống đốc, thị trưởng, v.v... Bài toán của trung ương là kiểm soát được sự thần phục của địa phương để tránh nạn ly khai hay độc lập như đã thấy sau khi Liên Xô tan rã năm 1991. Cái yêu cầu muôn thuở, từ thời Đế quốc Nga qua Liên bang Xô viết rồi Liên bang Nga ngày nay, dẫn tới một mâu thuẫn kinh tế là trung ương trưng thu hay tài trợ cho các địa phương để duy trì được hệ thống chính trị của họ?

- Đấy không là vấn đề trừu tượng vì khi Nga bị hiệu ứng của vụ khủng hoảng Đông Á năm 1997 thì nhiều địa phương đòi ly khai để lo lấy thân. Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 thì vụ khủng hoảng 1998 này là biến cố thứ hai đe dọa sự tồn vong của Liên bang. Thời đó, ông Vladimir Putin lên làm trùm mật vụ liên bang, hậu thân của cơ quan KGB, trước khi làm Thủ tướng rồi Tổng thống, nên ý thức được mối nguy đó. Ta có nhắc chuyện xưa thì mới hiểu ra rủi ro hiện tại.

Vũ Hoàng: Thính giả của chúng ta quen với cách phân tích của ông là dẫn từ bối cảnh xa xưa đến chuyện hiện tại. Thời đó, vào năm 1998, Liên bang Nga bị khủng hoảng tài chính và ngoại hối, thực tế vỡ nợ. Khi ấy chuyện các địa phương đòi ly khai đã diễn tiến ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Năm đó, Liên Xô mới tan rã có sáu bảy năm, công khố Liên bang Nga kiệt quệ và nạn khủng hoảng Đông Á dội về khiến chính quyền trung ương chấn động, lãi suất lên tới 150% và nhiều địa phương bị thiệt hại nặng, thậm chí thiếu ăn, mà không được trung ương cấp cứu. Nhiều khu vực bị nạn bèn giữ lại tài nguyên và thực phẩm trong lãnh thổ để lo cho cư dân của họ, hoặc bất chấp sự cấm đoán của trung ương mà bán đất hay vay nước ngoài như trường hợp của St Petersburg. Trung ương bất lực và Bộ Tư pháp cho rằng gần hai phần ba địa phương vi phạm luật lệ liên bang! Tổng thống Boris Yeltsin bèn đưa ông Putin lên cầm đầu cơ quan An ninh Liên bang FSB rồi vào Hội đồng An ninh để thẳng tay thanh trừng địa phương nào có ý nổi loạn. Qua năm 1999, do sự lãnh đạo của những người thân tín của trung ương, có 46 trong số 89 địa phương theo quy định thời ấy đã đồng ý tập trung quyền lực về trung ương.

- Sau khi lên làm Tổng thống từ năm 2000, ông Putin tiếp tục chiều hướng tập quyền và có tám năm tương đối ổn định nhờ thương phẩm và năng lượng lên giá. Rồi vụ Tổng suy trầm năm 2008 làm Nga lại bị khủng hoảng vào năm 2009 với hậu quả là trung ương thu vén phương tiện cho mình giữ được quân bình ngân sách và trút thiệt hại xuống địa phương. Hậu quả ngày nay là nguy cơ vỡ nợ của nhiều địa phương. Dư luận quá chú ý đến hậu quả khủng hoảng thời 2008 của các nước công nghiệp hoá nên ít thấy ra mối nguy vỡ nợ của các địa phương Nga và khả năng chống đỡ rất kém của trung ương vì thật ra phương tiện cũng có hạn.

Vũ Hoàng: Chúng ta đi vào hồ sơ vỡ nợ ấy. Thưa ông, tình hình thực tế đã diễn tiến thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ vụ khủng hoảng 2009, khi kinh tế Nga bị suy trầm nặng, các địa phương đều thiếu tiền và phải đi vay. Tiền vay của nhiều tỉnh đã tăng hơn gấp đôi, từ kim ngạch tương đương với khoảng 35 tỷ đô la vào năm 2010 nay đã lên tới gần 80 tỷ. Cũng S&P còn dự báo là qua năm 2015 thì khoản nợ này sẽ vượt trăm tỷ đô la.


Vũ Hoàng: So với tổng số nợ công của Liên bang Nga thì khoản nợ gần trăm tỷ này có sức nặng hay mức nguy ngập ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tổng số công trái của liên bang và địa phương của Nga chỉ khoảng 300 tỷ, bằng 14% Tổng sản lượng, tức là không nhiều. Nhưng cái khó ở đây là các địa phương không có cơ chế và quy cách xóa nợ hay giảm nợ như chính quyền liên bang tại trung ương. Chúng ta phải tìm hiểu sự kiện chuyên môn ấy thì mới thấy ra ách tắc nguy ngập cho tương lai trước mặt.

- Số là các địa phương mà bị thâm hụt ngân sách thì có thể đi vay qua ba ngả, là ngân hàng, phát hành công trái hay vay ngân sách của trung ương chẳng hạn, mà phải được trung ương cho phép vì khi đi vay là họ mặc nhiên cạnh tranh với trung ương trên thị trường tài chính. Ngân hàng mà cho địa phương vay thì tính lãi suất cao hơn và kỳ hạn chỉ bằng phân nửa của trung ương. Vì vậy, các địa phương đều ưa vay ngân sách của trung ương mà trung ương lại thấy việc tài trợ ấy kém lời nên cũng muốn hạn chế trước sau chỉ cho vay có vài tỷ đô la mà thôi. Hậu quả là các địa phương thiếu tiền mà vay ngân hàng thì lại bị lãi suất đắt hơn, và cao quá khả năng hoàn trái. Theo cơ quan S&P ước lượng thì trong 83 tỉnh thành địa phương thì chỉ có 20 khu vực là có quân bình ngân sách hoặc thặng dư nho nhỏ, còn 63 địa phương kia bị chết kẹt và có thể vỡ nợ.

- Chuyện thứ hai là từ vụ khủng hoảng năm 2009, kinh tế Nga bị suy trầm và thay vì tăng trưởng cỡ 3-4% thì năm ngoái chỉ được 1,3%, và năm nay còn ít hơn như tuần qua nhiều nơi đã dự báo. Vào hoàn cảnh đó, trung ương lúng túng chẳng thế tung tiền chuộc nợ hay cấp cứu địa phương bị nạn và đến hạn kỳ trả nợ. Đã vậy, các địa phương còn bị chính quyền trung ương của ông Putin đòi tăng mức đầu tư và lương bổng để tránh sự bất mãn của dân chúng. Hậu quả là vòng luẩn quẩn vì đầu tư giảm, nợ tăng, ngân hàng mất nợ và tư bản tháo chạy khỏi thị trường Nga, nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước phải đóng cửa hãng xưởng ở địa phương.

Vũ Hoàng: Qua những gì ông trình bày thì hình như trung ương và địa phương đang giành nhau một cái bánh nhỏ hơn trước. Nếu nhớ lại kinh nghiệm từ vụ khủng hoảng 1998 hay 2009, phải chăng bài toán muôn thuở của nước Nga sẽ là làm sao san xẻ quyền lực chính trị và quyền lợi kinh tế giữa trung ương với địa phương?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng vậy vì Liên bang Nga chỉ là một xứ nghèo mà có lắm võ khí.

- Mâu thuẫn kinh tế tài chính giữa trung ương với các địa phương đang là vấn đề thuộc loại hữu cơ vì nằm trong cơ chế chính trị của chế độ. Trung ương ngày nay đã mạnh hơn, có gần 700 tỷ đô la trong khối dự trữ ngoại tệ và các quỹ đầu tư hay dự phòng của nhà nước, nhưng các địa phương khó trông đợi gì ở sự cấp cứu của trung ương như ta đã từng thấy năm 2009. Việc một số địa phương nay mai có thể vỡ nợ là điều ngày càng rõ khiến trung ương phải nghĩ tới biện pháp triển hạn nợ hoặc cho ngân hàng quốc doanh lớn nhất là Sberbank tung tiền tài trợ và trông đợi vào nguồn thu nhờ năng lượng vẫn còn cao giá. Nhưng sau vụ khủng hoảng Ukraine, tình hình sẽ đổi khác. Ngoài ra, ông Putin còn gặp nhiều khó khăn trong nội bộ nên thật ra cũng khó xoay trở.

Vũ Hoàng: Thưa ông, những khó khăn đó là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết là sự thần phục chẳng có gì là chắc chắn của nhiều địa phương vì cư dân ở dưới chưa chắc đã nghe theo lãnh tụ do trung ương cất nhắc ở trên. Thứ hai là sự chuyển dịch dân số với đà sút giảm của tỷ trọng của người Nga, da trắng, theo Chính thống giáo, so với các sắc tộc hay tôn giáo khác và so sánh với các di dân nhập cư vào Nga. Vì thế, để giữ quyền thống trị của dân Nga, trung ương phải gánh vác khó khăn của nhiều địa phương bất mãn vì mức sống sa sút.

- Thứ ba, ngay trong nội tình Nga thì phong trào chống đối ông Putin đã manh nha từ năm 2011-2012 và dù có bị dẹp thì tình hình chưa hẳn ổn định. Việc chiếm đoạt Crimea và uy hiếp Ukraine có thể khích động tinh thần dân tộc của người Nga và giúp ông ta có thêm uy thế nội bộ. Nhưng nhiều người Nga quá khích thì không đồng ý với việc trung ương chi tiền trợ giúp các nước Cộng hoà Hồi giáo ở miền Bắc Caucasus, hoặc di dân vào cướp mất việc của họ. Ngược lại, không phải người Nga nào cũng đồng ý với chế độ thật ra độc tài và thiếu dân chủ lại dùng võ lực uy hiếp xứ Ukraine.

- Bây giờ, trong hoàn cảnh kinh tế càng thêm khó khăn vì vụ Ukraine và đòn trừng phạt của Tây phương, mối nguy vỡ nợ và ly khai của nhiều địa phương trở thành chuyện có thật. Nếu ông Putin lại dùng bạo lực trấn áp như vào năm 1998, nội tình Liên bang Nga sẽ gặp biến động mới. Đâm ra việc thôn tính Crimea có thể dẫn tới loại hậu quả bất lường về kinh tế và lan rộng thành khủng hoảng chính trị. Kết luận ở đây vẫn là "lực bất tòng tâm", càng muốn bành trướng thì càng gặp khó khăn kinh tế bên trong một quốc gia thật ra vẫn lạc hậu chỉ sống nhờ bạo lực và năng lượng. Chúng ta rất nên theo dõi chuyện nợ nần của các địa phương bên trong nước Nga....

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.