Hôm nay,  

Quyên Sinh

08/04/201400:00:00(Xem: 6740)

Bùi Phú
(Chuyện xẩy ra trong nhà tù Z.30B Xuân Lộc Đồng Nai.)

Khoảng năm 1978-1979, có một tù nhân anh em ở trại tù Z.30B Xuân lộc Đồng Nai vì quá buồn phiền chuyện gia đình không có cách nào có thể giải quyết ổn thỏa được nên anh mới có ý định muốn tìm cách quyên sinh để giải thoát cuộc đời, nhưng bị các bạn tù chung phát giác kịp thời, họ bèn tìm mọi cách khuyên nhủ anh điều hơn, lẽ thiệt phải trái ở đời, nhưng vẫn không sao nay chuyển được ý định của anh. Nhất là một khi con người bị giam cầm trong nhà tù vô hạn định lại còn phải bị đầy ải lao động khổ sai nữa, cũng như phải suy nghĩ qua nhiều và nhất là không kiên trì chịu đựng nổi được mọi sư gian khổ, đầy đọa khổ ải con người nên đôi khi vì quá tuyệt vọng, quẫn trí chẳng muốn sống trên cõi đời này nữa

Vì anh là người Công Giáo Truyền thống, lại là người ngoan đạo nữa nên anh luôn tìm mọi phương cách hầu có thể quyên sinh được mà không ảnh hưởng vi phạm đến một trong những điều luật cấm của Giáo Hội Công Giáo và cuối cùng anh đã đạt được ý nguyện.

Nhân một buổi trưa hè nóng bức của Vùng Gia Ray Xuân Lộc, nhân cơ hội các bạn tù còn đang ngon giấc ngủ trưa để lấy sức sau một buổi sáng lao động khổ sai, vô cùng vất vả, đặng buổi chiều còn phải đi lao động tiếp như mọi ngày. Có lẽ anh đã có chủ định trước bằng phương pháp trốn trại, do đó anh không ngủ trưa, bèn len lén các bạn tù, lẳng lặng tiến sát hàng rào tre vững chắc và kín đáo bao quanh trại tù và tìm mọi cách có thể vạch, pha cho được hàng rào tre rộng đủ một người để có thể lách được mình trốn thoát ra khỏi trại như ý định và anh đã thành công.

Không ngờ việc làm của anh đã bị một trong các vệ binh canh gác trên 2 chòi cao sau trại phát giác kịp thời, chúng hô hoán và la lớn lên "có tù trốn trại, có tù trốn trại", những tiếng la lớn, inh ỏi đánh thức toàn bộ anh em tù nhân trong trại phải tỉnh giấc ngủ trưa đồng thời các cán ngố vệ binh CS nghe la bèn tấp lập xách súng vội vã chạy ùa ra khỏi cổng trại đuổi bắt anh. Anh chạy trước, các vệ binh CS cầm súng đã nạp đạn và lên cò sẵn vừa đuổi theo sau anh chỉ cách khoảng 4, 5 thước trên một cánh đồng trống trải, vừa la lớn liên tục "anh kia đứng lại, đứng lại".

Như đã có chủ đích từ trước, anh làm như không nghe thấy gì cả nên dù các vệ binh CS có đuổi theo gần kịp la hét inh ỏi anh cũng chẳng quan tâm, thay vì các vệ binh CS nếu cố gắng đuổi theo, trước sau gì cũng bắt sống được anh, nhưng chúng không làm thế, chúng chỉ lơi dụng cơ hội may mắn, hợp pháp hi hữu này để chúng co thể xả súng liên tục bắn anh gục ngã chết liền ngay tại chỗ vì anh đã cố tình vi phạm nội qui của trại, sau đó chúng hân hoan kéo xác anh về chôn chung trong khoảng đất trống cách trại tù khoảng 500 thước được gọi là"nghĩa trang tù nhân", và cũng là nơi an nghỉ ngàn thu của những ban tù chịu đựng gian khổ, đọa đầy không nổi đã không may sớm bất hạnh lìa đời.

Các vệ binh CS đâu có ngờ chính những phát súng ân huệ và oan nghiệt đó đã giúp anh mãn nguyện giải quyết xong cuộc đời mà anh lại không bị ràng buộc phải vi phạm vào những điều luật cấm của Giáo Hội Công Giáo.

Mặc dầu bản thân anh đã được giải thoát, nhưng anh đã để lại cho các bạn tù thân hữu không những biết bao niềm tiếc thương mà còn là một sự mất mát và thiệt thòi vô cùng lớn lao cùng sự thương nhớ suốt đời cho chính gia đình anh cùng họ hàng thân thuôc liên hệ.

BÙI PHÚ/VBMN

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.