Hôm nay,  

Vượt Ngục

15/04/201400:00:00(Xem: 8361)

Bùi Phú
(Một cuộc vượt ngục thật ly kỳ, đầy nguy hiểm và thành công xuất sắc, độc nhất vô nhị xẩy ra trong Trại Tù CS-Z.30A Xuân Lộc-Đồng Nai.)

Saigòn sụp đổ sau năm 1975, sau khi CS đã cưỡng chiếm và thống trị hoàn toàn nhân dân miền Nam VN, CS đã áp dụng sách lược trả thù đối với những người của Chế độ cũ bằng cách tập trung giam cầm tất các những Quân, cán chính của Chính thể VNCH trong các trại tù lớn với tên gọi mĩ miều, mỵ dân là “trại cải tạo”. Có thể nói trong các trại tù trên toàn nước Việt thì trại tù Z.30 Xuân Lộc Đồng Nai gồm các trại Z-30A, Z-30B và Z-30C là các trại tù có nhiều anh em tù nhân tự vận cũng như trốn trại nhiều nhất so sánh với trại tù các nơi liên hệ khác. Nhưng đặc biệt nhất là cụộc vượt ngục tập thể đầy nguy hiểm, ly kỳ và thành công xuất sắc độc nhất vô nhị của 32 tù nhân Biệt kích Fulro trong trại tù Z-30A Xuân Lộc Đồng Nai.

Được biết khoảng năm 1981-1982, không hiểu sao và bằng cách nào bọn CS đã tóm gọn toàn bộ Ban Chỉ Huy Tham mưu của lực lượng Biệt kích Fulro 32 người gồm có cả Đại tá, Bác Sĩ Quân Y, Sĩ quan và lính Fulro, sau đó CS đã giam giữ họ trong một trại tù rất đặc biệt Trại Z. 30A Xuân Lộc Đồng Nai vô cùng kiên cố, kín cổng cao tường, có hàng rào kẽm gai cuộn tròn bao quang trên bức tường gach cao 2 thước rưỡi, có trạm kiểm soát là những chòi cao xung quanh trại với vệ binh canh gác đổi phiên liên tục và đèn pha rọi sáng quanh tường hàng đêm thường xuyên, thật khó có một tù nhân nào có thể trốn trại được. Vậy mà vào một đêm tối mưa phùn, hơi se lạnh của vùng Gia Rây Xuân Lộc Đồng Nai, toàn Bộ Ban Chỉ Huy Biệt kích Fulro 32 người không biết làm cách nào, không cánh mà bay, đã trốn thoát được 31 người chỉ để sót lại 1 Fulro già bệnh hoạn trốn đi không nổi.

Hơn nữa được biết Bộ Chỉ Huy Tham mưu Biệt kích Fulro được lệnh tập trung tại 1 địa điểm nào đó để di chuyển đến một vị trí an toàn hơn hầu tìm mọi phương cách đưa toàn bộ ra nước ngoài, không ngờ trong đó có1 kẻ bội phản (nội tuyến) nên mới bị CS vây bắt được trọn ổ là như vậy.

Nguyên nhân cuộc vượt ngục xẩy ra là từ trại trưởng Trung Tá Trịnh Văn Thích, cựu tù trưởng Lý bá Sơ ở ngoài bắc trước đây được chuyển về Nam đảm trách trại tù cũng như toàn bộ vệ binh đều say mê Cải lương, nên khi Đoàn hát Cải lương Saigon 3 từ Saigon xuống Trại tù Z30 Xuân Lộc Đồng Nai trình diễn Văn nghệ thể theo lời thỉnh cầu của trại và đươc ngay Trại trưởng hân hoan đón mừng bằng cách cho phép trại mổ heo tiếp đãi Đoàn Cải lương trọng thể đồng thời Trại trưởng còn chỉ thị cho Ban Thợ mộc trại, đóng hiến tặng cho Đoàn Cải lương sau khi hát xong trở về, một sân khấu bằng gỗ quý trong số lượng gỗ phá hủy hàng trăm mẫu rừng vùng Gia Ray để thâu nguồn lơi riêng tư bỏ túi. Do đó, khi đoàn hát luân phiên hát ở khu A cũng dành cho khu B coi chung xong, sau đó Đoàn hát di chuyển đến hát tiếp ở khu C cách xa 2 cây số đường rừng, đám cán bộ trại và vệ binh dù đã coi hát ở Khu A, nhưng vì quásay mê cải luơng nên cùng rủ nhau đi coi hát tiếp ở khu C, và chúng đã lơi là canh gác, quên không cảnh giác, do đó Toàn bộ Ban Chỉ huy Tham mưu Biệt kích Fulro nhốt ở khu A mới có cơ hội may mắn, không biết làm cách nào mà họ có thể trốn thoát khỏi trại tù quá kiên cố một cách dễ dàng như vậy được.

Đến sáng hôm sau, trước khi tập họp điểm danh anh em tù nhân đi lao động, đám Cán bộ quản giáo và Vệ binh trại mới phát hiện được trại A có tù nhân vượt ngục vì có 1 lán chứa được khoảng trên 30 anh em tù nhân Fulro trống rỗng chỉ còn sót lại 1 người mà thôi. Các cán ngố CS liền tức tốc báo cáo lên Trại Trưởng biết rõ nội vu. Nơi đây bèn huy động toàn bộ lưc lượng công an trong trại, tỏa ra bủa vây kiểm soát khắp nơi mong tìm bắt lại được số tù nhân Fulro đã trốn thoát, nhưng hoàn toàn vô vọng vì một khi Cọp đã thoát về rừng thì làm sao mà bắt lại được cũng có thể được ví như việc chỉ hoài công “mò kim dưới đáy biển” mà thôi.

Đây là một cuộc vượt ngục có tầm vóc thật quan trọng và vô cùng lớn lao, do đó Bộ nội vụ CS ở Sàigon đã khẩn cấp cử một phái đoàn kiểm tra xuống ngay trại tù Z.30A Xuân Lộc Đồng Nai điều tra tức thời để tìm rõ nguyên nhân nội vu xẩy ra và ai cũng tưởng rằng lần này có thể Tù trưởng Trung Tá Trịnh văn Thích sẽ bị khiển trách nặng nề hoặc sẽ bị trừng phạt cũng như rất có thể còn bị cách chức nữa, nhưng thật không ngờ mọi việc đềụ đựợc dàn xếp êm thắm và ổn thỏa tốt đẹp như không có chuyên gì xẩy ra và trách nhiệm Tù trưởng quản lý trại tù cũng chẳng mảy may ảnh hưởng gì cả cho đến khi trại tù đóng cửa vì đã thả hết tù nhân giam giữ, sau đó Tù Trưởng lại còn đươc phong thêm 1 chức Thượng tá nữa, hỏi ra mới biết hắn thuộc băng đảng Lê Duẫn, Tổng Bí Thư Đảng CSVN lúc bấy giờ.

BÙI PHÚ/TACOMA

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.