Hôm nay,  

Cha Tôi

07/06/201400:00:00(Xem: 5098)
Nguyễn Ninh Thuận
(Trích Hồi Ký “Mảnh Đời Của Minh”)

Từ thuở nhỏ, Minh có tính hời hợt, nhưng lại thích se sua, đua đòi. Minh là con út trong gia đình, nên nàng được cha mẹ rất nuông chiều, nàng muốn gì được nấy. Các chị lớn cũng hết sức cưng yêu, bao bọc chở che… Nàng được ưu tiên cắp sách đến trường, trong khi các anh chị thì phải lo tảo tần buôn bán, tìm kế sinh nhai nuôi sống gia đình trong khi gia đình xuống dốc vì thời thế, chiến tranh loạn lạc...

Minh học tiểu học ở quê nhà từ lớp năm đến lớp nhì. Với tuổi trẻ hồn nhiên, Minh sống thật vô tư, ngày ngày chỉ biết có ăn học và nô đùa với bè bạn mà thôi! Minh là Oanh Vũ của gia đình Phật tử địa phương…

Nhà Minh ở cạnh chợ nên rất tiện lợi trong việc mua bán. Chợ nằm cạnh con sông nhỏ đầy thơ mộng, uốn khúc bao bọc gần hết nửa làng, hơn nửa làng còn lại là đồi núi chập chùng…Nơi đây là nghĩa địa dành cho người dân địa phương. Có những ngôi mộ với nhà mồ to lớn, bia đá sừng sững. Bên cạnh đó là những nấm mộ chỉ là những ụ đất nhỏ bé thấp lè tè. Nhìn vào đó, người ta dễ dàng đoán biết được thân nhân của những nấm mộ kia thuộc thành phần nào trong xã hội; giàu sang hay nghèo khổ…

Có những buổi chiều tà, mặt trời gần khuất núi, những dải nắng thoi thóp cố gượng dậy, Minh hay rủ cô bạn cùng dãy phố đi lên đồi để dạo chơi và hái hoa. Vào mùa sim chín, tụi Minh thường rủ nhau đi sớm hơn để còn rong chơi trên đồi núi dễ thương, nhiều kỷ niệm… Hai đứa lúi húi vạch từng bụi sim, tìm hái những trái chín mọng đưa vào miệng, sung sướng nhai với tiếng cười rộn rã. Quả sim ngọt lịm, ăn nhiều làm cho lưỡi và răng trong miệng nhuộm màu tím rịm của sim. Ăn không hết, tụi Minh cất vào túi mang về nhà sau này ăn tiếp.

Trên đường về, Minh gặp từng nhóm trẻ mục đồng năm ba đứa, miệng chúng nghêu ngao hát, lùa trâu về chuồng… Minh rất sợ những con trâu với hai cái sừng cong cong và nhọn hoắt. Minh tưởng tượng, với hai cái sừng này húc vào người thì có nước nát bấy thân xác. Chợt Minh rùng mình cho cái ý tưởng không may của mình mới nghĩ đến… nàng vội nắm tay cô bạn ù té chạy một mạch về nhà mệt ngất ngư, thở không muốn ra hơi.

Những sáng thứ Bảy, Chúa nhật được nghỉ học. Minh viện cớ này, cớ nọ..., nàng rủ bạn lên núi để nhìn ngắm quê hương xinh đẹp trong buổi bình minh. Sau một đêm dài yên nghỉ, mặt trời bắt đầu ló dạng. Những tia sáng ban mai, hình như đang nhảy múa trên cành cây ngọn cỏ. Những giọt sương đêm còn đọng lại, dưới ánh nắng mặt trời như những hạt kim cương lấp lánh trông rất nên thơ, đẹp mắt. Cả một rừng hoa dại bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài đầy mộng mơ. Tất cả như cố đua nhau khoe hương, khoe sắc. Cây hoa ngũ sắc càng rực rỡ hơn sau một đêm tắm sương thỏa thích. Xa xa từng bụi lau cũng cố chen chân khoe màu trắng ngà với hoa lá. Từng đàn bướm đủ màu, bay lượn xung quanh những cánh hoa rực rỡ muôn màu & đồi núi xanh thẳm chập chùng…cả một khung cảnh xinh đẹp & nên thơ làm Minh như sống trong cảnh thần tiên đầy mộng mơ…

Khi còn trai tráng & thời trung niên, Ba Minh nắm giữ sổ sách ruộng nương, chấm công, coi chi thu trong gia đình…rồi Ba thu hoạch lúa má, tiền bạc của các tá điền đem giao nộp, vì ông Nội Minh là một Bá Hộ giàu có tiếng ở vùng quê Mỹ Chánh… Khi về già, Ba Minh là một tín đồ rất ngoan đạo. Đêm đêm, người tụng kinh, gõ mõ tại gia. Người rất hiền lành và không bao giờ động tới móng tay bất cứ việc nặng hay nhẹ trong nhà. Cuộc sống của gia đình hoàn toàn do ba người chị của Minh tảo tần lo liệu tất cả. Ngày ngày, ba của Minh chỉ biết đi chùa lễ Phật, thỉnh thoảng đi nhóm họp, và lo việc cúng tế ở trong làng…Nhớ khi ông nội của Minh…

....Là một bá hộ cả vùng, giàu sang phú quí có thừa. Tiền bạc, lúa gạo các tá điền mang nộp, phải lấy an xúc lúa mà đong, không đếm xuể. Nhà ngói mấy dãy, người ăn kẻ ở ra vào tấp nập. Kẻ ra, người vào nhờ cậy, vay mượn đông đảo... Nhưng ông nội Minh phải lòng một bà giúp việc trẻ đẹp. Ông lập ra thêm một cơ ngơi mới. Bà nội Minh lại rất hiền lành, tâm của bà như một vị tu hành, bà luôn giúp kẻ khốn cùng trong làng xóm. Đến mùa lụt lội, bà cho người chèo thuyền đi phân phát thực phẩm cho người nghèo đói. Bà nội ghẻ rắp tâm bòn rút của cải...Tiền bạc lần lần không cánh mà bay sang nhà bà nội ghẻ hết sạch. Bốn cô chú con bà nội ghẻ lần lượt được đưa vào Huế ăn học, xây dựng cơ ngơi. Họ lớn lên, lần lượt lấy vợ gả chồng, giàu sang phú quí.

Ba của Minh được phong hàm Cửu phẩm thời nhà Nguyễn. Ba được dân làng rất kính trọng, ăn trên ngồi trước trong đình đám hội hè. Ba Minh phải ở lại quê nhà trông coi ruộng nương, và lo phần hương hỏa. Rồi chính sách “Người cày có ruộng” ra đời, ruộng vườn phải giao lại cho tá điền, nhà chỉ còn lại một ít. Ba Minh không thể trực tiếp làm ruộng được, người cho người ta làm rẻ. Huê lợi thu vào ngày càng ít ỏi. Gia đình ngày càng lâm vào khánh kiệt. Rồi thì ruộng vườn, nhà cửa tan hoang trong thời kỳ Tây đô hộ nước ta và càng khốc liệt hơn khi cuộc chiến xảy ra giữa hai miền Nam Bắc thật ác liệt. Minh nghe chị Hường kể lại:


- Có khi gia đình mình không còn gạo nấu, tất cả phải ăn khoai sắn trừ cơm, đôi lúc bị say vì sắn độc.Những lúc ấy, mấy chú còn giàu sang, không một ai có lòng giúp đỡ ba mẹ Minh trong cảnh đói nghèo này! Nhớ lại thuở gia đình ba mẹ Minh còn giàu sang phú quí, lắm anh em bà con bè bạn lui tới nườm nượp để nhờ vả, hỏi mượn. Nay thấy gia cảnh ba mẹ Minh đã quá nghèo nàn, không còn gạo nấu thì họ lại lánh xa như không hề quen biết, kể cả anh chị em ruột thịt...

Ba Minh rất hiền, làng trên xóm dưới, ai ai cũng đều thương yêu và quí mến. Ba ký cóp tiền bạc, cất dấu không dám tiêu xài để lo cúng kỵ, quan hôn tang tế trong thân tộc họ hàng... Ngoài ra khi Minh học ở Đồng Khánh Huế về thăm nhà, khóc lóc với mẹ đòi tiền để chi tiêu rộng rãi... thì Ba Minh lấy từng đồng bạc được xếp hẳn hoi dúi cho con gái út với ánh mặt ái ngại thương xót...

Minh được đi học là cả một sự hy sinh thật to lớn vô cùng của gia đình ba mẹ. Bù lại, Minh học rất khá, hàng tháng đều mang về trình ba mẹ bằng khen hoặc bằng danh dự. Ba đã cất kỹ trong tủ áo. Lâu lâu ba mang ra khoe với bà con hàng xóm đến thăm với vẻ hãnh diện. Dù là còn non dại, nhưng Minh nguyện đem hết tâm trí ra học và chỉ biết có học mà thôi, với ý nguyện mong đền đáp một phần nào công ơn bao la Trời biển của cha mẹ và anh chị đã hết lòng nuôi Minh ăn học.

Tuy gia đình Minh xuống dốc, nhưng Ba Minh không biết cầm cây cuốc làm vườn, mà chỉ thuê người có sức lực về làm thay để trồng những cây như: Lá Chè xanh, Đậu, Mè, Bắp, Chuối, Mít, Mía, Ổi, Mãng Cầu Xiêm… dưới sự chỉ đạo của Người. Gia đình Minh có hai nhà, một nhà ở trên chợ mua bán bánh mứt độ nhật qua ngày và một nhà cuối làng trồng cây trái. Ngoài ra có hai mảnh vườn cho người ta làm nhà ở giữ vườn tược, cây trái có sẵn. Họ có thể trồng trọt cây theo mùa mà họ thích để thu nhập hoa màu…Khi có thu hoạch cây trái có sẵn, thì ba má Minh đến cắt những quầy chuối về dú chín, hái cam quít…bán lấy tiền để lo giỗ chạp cúng tế, vì Ba Minh giữ phần hương hỏa trong gia tộc…đó là những việc không có tên, nhưng cũng bận rộn tối ngày… Tuy vậy trước Tết vài ba tháng, ba cũng cố trồng một ít bông Vạn Thọ, hoa Mào Gà trước & xung quanh nhà, tỉa cây Mai, hoa Hải Đường… cho rộn ràng không khí Tết. Ngoài ra Ba Minh hay lo chiết những cây Cam, Quít, Bưởi để khu vườn được thay thế những cây già nua, trái nhỏ… Ba Minh rất siêng việc cúng tế ở Làng, Họ, Chùa Miều… Ba lại là con trai trưởng trong gia đình bề thế nên Người mãi mê lo tu bổ mồ mả trong gia tộc và thường xuyên cúng bái những thân nhân họ hàng đã khuất mặt…

Minh nhớ lại khi còn bé, mỗi khi cúng tế trong đình làng, hay đền thờ Họ Nguyễn, Ba Minh với chức cửu phẩm đã mặc áo thụng xanh, đội mũ cánh chuồn, chấp tay đứng trong chiếu hoa quỳ lạy theo tiếng chiên trống… “hưng, bái, cúc cung bái, quỳ…” vẫn còn bên tai Minh mãi mãi…. Khi dự tịệc đình đám trong làng xóm, họ hàng…Ba lại ngồi trên với các vị hương lão chức sắc… Mỗi hàng năm trong lễ giao thừa vào sáng Mồng Một Tết, Ba Minh trong bộ áo dài đen, khăn đống, đứng trước bàn thờ Tổ Tiên, với khói hương trầm nghi ngút, ánh bạch lạp bập bùng… Người đang lâm râm khấn nguyện… Minh còn ngái ngủ nhìn hình bóng Ba chập chờn trước mắt như một bức tranh thủy mạc…mà thương chi lạ! Trên bàn thờ với mâm cỗ chay, bánh mứt, hoa quả tinh khiết, nước trà thơm ngát tỏa khắp cả ngôi nhà. Không khí như trầm hẳn xuống với khí trời hơi lành lạnh đượm đầy vẻ trang nghiêm. Vườn nhà Minh rất rộng được bao quanh bởi luỹ tre xanh tươi kẻo kẹt và ao đào quanh nhà đầy nước vì là mùa mưa, nên tiếng côn trùng, ểnh ương kêu vang, như một khúc nhạc hòa tấu bản nhạc của làng quê mãi mãi trong ký ức Minh & hình ảnh cha mẹ nay đã khuất núi sống mãi trong tâm tư, trí óc Minh không bao giờ phai nhòa… Đó là một kỷ niệm khó quên, một mớ hành trang trong cuộc sống mà Minh trân quý hơn bạc tiền và những thứ quí hiếm trên cõi đời ô trọc này!…

“Còn Cha gót đỏ như son,
Không Cha không Mẹ như đờn đứt dây.”

Ca dao tục ngữ chẳng sai,
Mồ côi cha mẹ đêm ngày nhớ thương…
Cha tôi rất đổi hiền lương,
Giữ nhân, giữ nghĩa, hay thương dân nghèo…
Nhớ ngày có lắm người theo
Của tiền đầy ắp, kẻ vào người ra…
Gặp thời đất nước can qua,
Chiến tranh khủng khiếp, cửa nhà nát tan…
Buồn đời, danh lợi chẳng màng,
Ngày đêm kinh đệ, xóm làng chăm lo…
Vợ con hôm sớm nhỏ to
Bán buôn tần tảo, ấm no qua ngày.
Nhờ Người tạo đức lâu dài,
Ngày nay con cháu thành tài vinh quang…
Niết bàn, cha mẹ rỡ ràng,
Nhớ Cha, con cái hai hàng lệ rơi…

Ninh Thuận Nguyễn

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.