Hôm nay,  

Hải đồ Mercator (Mercator Nautical Map)

06/08/201400:00:00(Xem: 12759)

Trong những năm tháng gần đây, nhiều thông tin, xã luận có đề cập đến vị trí, toạ độ của các đảo thuộc quần đảo Hoàng sa và quần đảo Trường Sa bằng những điểm được xác định bởi kinh độ và vĩ độ của hải đồ Mercator. Tuy nhiên, có một số người chưa hiểu rõ về kinh độ Đông, kinh độ Tây, vĩ độ Nam, vĩ độ Bắc được thực hiện và tính toán như thế nào. Đôi khi có người lẫn lộn giữa chữ N (North) với chữ N (Nam). Sau khi hiểu được khái quát về phép chiếu hình trụ của Gerhard Mercator thì sẽ hiểu được vị trí có vĩ độ Nam hay vĩ độ Bắc.

Thời gian còn là sinh viên sĩ quan hải quân tập sự trên Hoả Vận Hạm HQ471, Hộ Tống Hạm HQ10 cũng như sau khi tốt nghiệp trường SQHQ Nha Trang phục vụ trên Dương Vận Hạm HQ503, tôi đã thường sử dụng hải đồ Mercator để làm point (có nghĩa là xác định toạ độ của chiến hạm trên biển khơi).

Thông thường, khi chiến hạm nhận lệnh công tác, trước khi rời bến, ban Giám lộ có nhiệm vụ kiểm soát lại các đèn quang hiệu, cờ hải hành, hải đồ Mercator và dụng cụ làm point v.v. Song vào đó, trước khi chiến hạm rời bến, hạm trưởng vẽ trên hải đồ Mercator đường đi từ điểm xuất phát cho tới điểm đến. Nhiệm vụ của sĩ quan trưởng phiên hải hành là phải chịu trách nhiệm việc xác định toạ độ của từng vị trí chiến hạm trong suốt ca hải hành của mình. Thông thường cứ mỗi 15 phút thì định vị một lần. Có nhân viên Giám lộ phụ giúp. Trước khi xuống ca thì sĩ quan trưởng phiên hải hành của ca kế tiếp phải lên trước khoảng 15 phút để nhận bàn giao. Mọi dữ kiện diễn tiến ghi nhận được trong lúc hải hành đều được ghi vào sổ hải hành.

Thật vậy, sĩ quan hải quân ngành chỉ huy phải hiểu rõ và sử dụng hải đồ Mercator như cơm bữa. Khi ra hải ngoại, vào năm 1982 tôi đã ghi danh theo học ngành kỹ thuật tại đại học có tên là Gerhard Mercator University ở thành phố Duisburg, tiểu bang Nordrhein Westfalen thuộc nước Cộng Hoà Liên Bang Đức. Tôi xin ghi lại đôi dòng về công trình thực hiện hải đồ của Gerhard Merctor nhằm tri ân đại học mang tên ông đã cấp cho tôi bằng ban khen vì đã học đúng thời gian quy định và có điểm tốt (good) khi tốt nghiệp.

blank
Bản đồ Mercator đầu tiên năm 1569.

1- Gerhard Mercator là ai và thành phố Duisburg ở đâu?

Kể từ thế kỷ 15, năm 1492, Kha Luân Bố và thuỷ thủ đoàn tìm ra Châu Mỹ, lần nữa đã xác định trái đất là một khối tròn. Gehard Mercator là một nhà địa lý học, chuyên nghiên cứu về hình dạng của quả đất, đất đai biển cả, thực hiện bản đồ, hoạ đồ và là cha đẻ ra hải đồ Mercator (Mercator Nautical Map). Ông đã góp sức rất nhiều cho ngành hàng hải cận duyên và viễn dương cũng như bản đồ trên đất liền.

Ông Gehard Mercator sinh vào ngày 5.3.1512 tại Rupelmonde vùng Grafschaft Flandern. Vùng nầy hiện nay thuộc vùng đất bao gồm 3 nước: Pháp, Hoà Lan và Bỉ. Đó là một vùng đất thấp, tiếp giáp với biển Đại Tây Dương (Atlantic). Khi lớn lên, vào năm 1540, Gerhard Mercator dời qua thành phố Duisburg thuộc Vereinigte Herzogtrmer Jlich-Kleve-Berg vào thời bấy giờ, cách nơi ông được sinh ra khoảng trên 150 km về phía Đông Nam, nơi giao tiếp của 2 giòng sông Rhein đến từ phía Nam và giòng sông Ruhr đến từ phía Đông. Đó là thành phố Duisburg nơi mà ông đã bỏ suốt cuộc đời nghiên cứu vẽ hải đồ Mercator và cũng là nơi mà ông Mercator đã từ giã cõi đời vào ngày 2 tháng 12 năm 1594.

Thành phố Duisburg ngày nay thuộc nước Cộng Hoà Liên Bang Đức, là một thành phố có khu kỹ nghệ luyện sắt thép nổi tiếng. Đó là nhà máy luyện thép Thysen. Phẩm chất sắt thép được sản xuất tại Duisburg tốt nhất thế giới và được xuất cảng đi khắp nơi trên địa cầu cũng như tại Đức quốc. Duisburg cũng là thành phố thuộc vùng có nhiều mỏ than đá nằm ở phía Tây Đức. Duisburg có cảng nội địa lớn nhất Âu Châu, nơi tập trung nhiều tàu chuyển vận hàng hoá như sắt thép, than đá v.v. đi khắp nơi từ thời xa xưa. Nội cảng Duisburg cũng là nơi dùng làm phim trường khá nổi tiếng để đóng phim tội phạm (crime). Đặc biệt là phim “Tatort”.

Duisburg có trường Đại Học Tổng Hợp (Gesamthochschule-Universitaet (University)) mang tên Gerhard Mercator. Phân khoa Luyện Kim cũng như phân khoa Đóng Tàu (Schiffbau) khá nổi tiếng của đại học chuyên nghiệp (Fachhochschule) cũng trực thuộc Đại Học Tổng Hợp nầy. Vào thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, Duisburg nằm trong khu kỹ nghệ nặng phục vụ chiến tranh và được xem như mục tiêu tấn công đầu tiên của quân đồng minh vào phía Tây Đức gần biên giới Hoà Lan, nên cũng bị tàn phá nặng nề. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh chấm dứt, thành phố Duisburg đã được nhanh chóng phục hồi bởi một chính quyền rất tài giỏi của nước CHLB Đức dưới một thể chế pháp quyền tự do dân chủ cùng với những nỗ lực tái thiết đất nước của dân Tây Đức.

2. Phương pháp thực hiện hải đồ Mercator:

Phép chiếu Mercator là phương pháp chiếu góc lên xy lanh hình trụ. Dữ kiện trên xy lanh hình trụ được trải phẳng ra thành bản đồ phẳng. Đặc biệt bản đồ nầy được dùng cho ngành hàng hải gọi là hải đồ Mercator.

Muốn hiểu rõ về phương pháp thực hiện hải đồ Mercator, trước hết phải hiểu rõ về hình dạng của trái đất, kinh tuyến, vĩ tuyến.

2.1 Hình dạng trái đất (die Erde; the earth):

Như đã biết, trái đất là một khối tròn có bán kính gần bằng nhau. Trái đất là một hành tinh quay chung quanh mặt trời trong thái dương hệ. Trái đất có độ dày đặc nhất, lớn thứ năm và là hành tinh thứ ba ở gần mặt trời trong hệ thống năng lượng mặt trời. Đường kính của nó là 12.745 km, xấp xỉ với 40.000 km/p. Số p (đọc là Pi = khoảng 3,1416). Mét (m) được định nghĩa bằng 1/10.000.000 khoảng cách từ xích đạo đến cực Bắc (North Pole) đo qua Paris, Pháp quốc. Đường kính tại đường xích đạo lớn hơn đường kính từ cực Nam đến cực Bắc khoảng 43 km. Sở dĩ có phần phình ra ở đường xích đạo là kết quả của quá trình tự quay của trái đất. Tuổi của trái đất có khoảng 4,53 tỷ năm. Trái đất cách mặt trời khoảng 149.600.000 km. Trái đất là nơi của các sinh vật sống, có ¾ là biển cả, ¼ còn lại là đất liền.

2.2. Kinh độ (Longitude) và Vĩ độ (Latitude) là gì ?:

Trước tiên, Gerhard Mercator chia khối cầu dọc theo hai cực, từ Bắc (North Pole) đến Nam (South Pole) thành 360 đường song song có khoảng cách bằng nhau trên vòng xích đạo, gọi là kinh tuyến (meridian). Mỗi kinh tuyến mang một độ (degree) gọi là kinh độ (longitude). Ông chọn kinh tuyến xuyên qua địa điểm Greenwich ở Anh quốc làm 0° (kinh độ Zero). Kể từ kinh tuyến ngang qua Greenwich về phía Đông có 180 kinh độ Đông (East, 180°E hay E180°) và ngược về phía Tây có 180 kinh độ Tây (West, 180°W hay W180°).

Ngoài ra, dọc theo hướng Bắc Nam, Gerhard Mercator chia khối cầu thành 2 phần: Kể từ đường xích đạo (equator) đến cực Bắc ông chia ra 90 đường song song với nhau gọi là vĩ tuyến (parallel) tương ứng với 90°. Mỗi vĩ tuyến mang một góc độ gọi là vĩ độ (latitude). Có 90 vĩ độ Bắc (Lat. N). Ngược lại, từ đường xích đạo xuống đến cực Nam cũng có 90 vĩ độ Nam (Lat. S) song song với nhau.

Khi nói đến toạ độ người ta phải ghi vĩ độ và kinh độ. Ví dụ: Trân Châu cảng (Pearl Harbor) ở đảo Honolulu có toạ độ là 21°19´11“ N và 157°51´40“ W

blank
Phép chiếu Mercator được trải ra trên mặt phẳng.

2.3. Phép chiếu hình trụ của Gerhard Mercator:

2.3.1. Hệ số tỷ lệ:

Phỏng chừng trái đất có bán kính (radius) a, được thu hẹp như một khối cầu (globe) nhỏ và có bán kính R. Khối cầu sẽ xác định tỷ lệ của bản đồ. Có nhiều phương pháp khác nhau để xác định chi tiết địa lý được hoán chuyển từ khối cầu tiếp xúc với mặt xy lanh của nó ở đường xích đạo. Xy lanh hình trụ được trải ra để cung cấp cho các bản đồ phẳng. Tỷ lệ R/a được gọi là phân số tương ứng representative fraction (RF) hoặc tỷ lệ chính của phép chiếu.

Ví dụ, một bản đồ Mercator in trong một cuốn sách cũng có một chiều rộng ở đường xích đạo là 13,4 cm tương ứng với một bán kính khối cầu 2,13 cm và tỷ lệ tương ứng với quả đất khoảng 1/300M. “M“ được sử dụng như là chữ viết tắt của một sự làm nhỏ quả đất 1.000.000 lần bằng hệ số RF. Bản đồ nguyên thuỷ năm 1569 của Mercator có chiều rộng 198 cm tương ứng với một bán kính quả cầu là 31,5 cm và RF khoảng 1/20M.

2.3.2 Phép chiếu hình trụ:

Như ở trên đã đề cập, phép chiếu bản đồ hình trụ được xác định bởi sự liên kết các tọa độ địa lý của vĩ độ f (từ 0° đến +/- 90°) và kinh độ ? (từ 0° đến +/- 180°) từ khối cầu đến tọa độ trên bản đồ.

2.3.3. Cách tính:

Năm 1599 nhà toán học người Anh Edward Wright cũng đã giải thích toán học về sự chính xác của phép chiếu Mercator.

Trên đây là một hình ảnh của khối cầu (trái đất thu hẹp) với phía Bắc cực được cắt tại góc độ f (hoặc góc độ ? theo hình vẽ). Đường xích đạo là một vòng tròn với bán kính R (R cũng là bán kính của khối cầu) và chu vi là W=2pR. Đường vĩ tuyến ở góc độ f là một vòng tròn với bán kính R.cos(f) và có chu vi 2p.R.cos(f).

Từ xy lanh hình trụ, những tiếp tuyến của khối cầu tại đường xích đạo có hệ số tỷ lệ giữa khối cầu với xy lanh giống nhau. Khoảng cách từ đường xích đạo đến một vĩ tuyến được xác định bởi phương trình y(f), nghĩa là lệ thuộc góc độ f ở từng vĩ độ. Vĩ tuyến ở góc độ f được kéo dài bởi một hệ số tỷ lệ k=1/cos(f) = f giây gọi là (sec f). Hệ số tỷ lệ tương ứng trên kinh tuyến được ký hiệu là h.

blank
Những hệ số tỷ lệ.

Hình học phân tố nhỏ (small element geometry):

Chúng ta hảy khảo sát 2 hình vẽ thuộc bề diện nhỏ sau đây:

a) Những đường kinh tuyến và vĩ tuyến của khối cầu.

b) Những đường kinh tuyến và vĩ tuyến trên phép chiếu hình trụ.

Mối tương quan giữa phương trình y(f) và tính chất của phép chiếu, chẳng hạn như việc hoán chuyển góc độ và sự thay đổi hệ số tỷ lệ được tiếp nối từ hình học giải tích của các phân tố nhỏ trên khối cầu và bản đồ tương ứng. Hình dưới đây cho thấy một điểm P ở vĩ độ f và kinh độ ? trên khối cầu và một điểm Q gần đó ở vĩ độ f + df và kinh độ ? + d?. Các đường thẳng đứng PK và MQ là vòng cung của kinh tuyến có chiều dài Rdf. Đường ngang PM và KQ là vòng cung của vĩ tuyến có chiều dài R(cos f)d?. Những điểm tương ứng trên phép chiếu xác định một hình chữ nhật chiều rộng dx và chiều cao dy.

Phương trình toán học đã giúp cho nhà địa lý vẽ được những vĩ độ, kinh độ trên bề mặt khối cầu cũng như trên xy lanh hình trụ trong phép chiếu hình trụ khá chính xác. Hình trụ được trải lên mặt phẳng sẽ cho ra bản đồ. Đó là hải đồ Mercator.

Bảng liệt kê cho thấy tỷ lệ trên đường xích đạo khoảng 0,99; tỷ số k=1 ở vĩ độ khoảng ± 8°; tỷ số k=1,01 ở vĩ độ khoảng ± 11,4 °.

Ở vĩ độ 30° có hệ số tỷ lệ là k= sec 30°=1,15

Ở vĩ độ 45° có hệ số tỷ lệ là k= sec 45°=1,41

Ở vĩ độ 60° có hệ số tỷ lệ là k= sec 60°=2,00

Ở vĩ độ 80° có hệ số tỷ lệ là k= sec 80°=5,76

Ở vĩ độ 85° có hệ số tỷ lệ là k= sec 85°=11,5

Như vậy, trong bất kỳ hướng nào từ một điểm trên đường xích đạo tương ứng với khoảng 900 km sẽ có khoảng cách tương ứng cho các vĩ độ 20 ° là 846 km, 40 ° là 689 km, 60 ° là 450 km và 80 ° là 156 km tương ứng.

2.3.4. Độ chính xác của phép chiếu Mercator:

Một phép đo chính xác của bản đồ là một sự so sánh về độ dài của các yếu tố đường thẳng tương ứng trên bản đồ và khối cầu. Do đó, qua sự cấu trúc, phép chiếu Mercator là hoàn toàn chính xác, k = 1, dọc theo đường xích đạo và không nơi nào khác. Ở vĩ độ ± 25° giá trị của giây f là khoảng 1,1 giây và do đó phép chiếu có thể được coi là chính xác trong phạm vi 10% trong một dải rộng 50° trên đường xích đạo. Ở những dải hẹp hơn thì chính xác hơn: 8° giây=1,01. Do đó, một dải rộng 16° (trung tâm điểm trên đường xích đạo) thì chính xác trong vòng 1%. Tương tự như vậy 02,56°giây=1,001. Do đó, một dải rộng 05,12° thì chính xác đến 0,1% hoặc gọi là 1/1000. Do đó phép chiếu Mercator là thích đáng cho các nước ở gần xích đạo sử dụng bản đồ Mercator.

2.3.5. Vài địa điểm có toạ độ tiêu biểu:

Một vài ví dụ toạ độ theo phép chiếu hình trụ của Gerhard Mercator tại lãnh hải Việt Nam nằm trên Bắc bán cầu được xác định bởi vĩ độ Bắc (N) và kinh độ Đông (E):

Vị trí phía Nam và phía Bắc của Việt Nam:

Mũi Cà Mau: 8° 20? 23“ N và 104° 57´ 51“ E

Ải Nam Quan: 23° 01? 28“ N và 105° 28´ 52“ E

Vùng quần đảo Hoàng Sa có những toạ độ sau đây:

Paracel Viet Nam: 16°35?52“ N và 112 °46´00“ E

Đảo Hoàng Sa: 16°12?11“ N và 111 °48´38“ E

Cù Lao Ré (Đảo Lý Sơn): 15°22?55“ N và 109 °07´02“ E

Cảng Tiên Sa, Đà Nẵng: 16°06?59“ N và 108 °13´02“ E

Vùng quần đảo Trường sa:

Mốc chủ quyền Trường Sa Việt Nam: 8°35?46“ N và 111 °54´49“ E

Bãi Phúc Nguyên: 7°57?11“ N và 109 °58´56“ E

Đảo Quê Hương: 11°20?38“ N và 114 °18´34“ E

Spratly Island: 10°39?23“ N và 115 °21´21“ E

2.3.6. Đơn vị đo hải đồ Mercator:

Theo góp ý của HQ Châu Đình Lợi, tôi xin ghi thêm đơn vị đo khoảng cách trên hải đồ Mercator. Ở vùng xích đạo, một hải lý (nautical mile) có độ dài khoảng 1852 m được tính như sau:

Như ở trên đã dẫn chứng, chu vi quả đất có khoảng 40.000 km. Trên đường xích đạo, chu vi quả đất được chia thành 360 kinh tuyến (= 360 kinh độ). Mỗi kinh độ có độ dài = 40.000 km / 360= khoảng 111 km. Mỗi độ có 60 phút (1°/60). Vậy mỗi phút (´) có độ dài bằng một hải lý: 111 km / 60° = 1,85185 km = khoảng 1852 m.

KS Nguyễn Văn Phảy

Cựu Trưởng Ban Giám Lộ & Thám Xuất HQ 503

http://navygermany.gerussa.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.