Hôm nay,  

Chị Tôi

10/09/201400:00:00(Xem: 8216)

Viết để kính yêu tặng chị tôi, Phạm Thị Thúy Diệp, một người suốt đời tận tụy săn sóc mẹ già, các em, các cháu.

Các cụ xưa thường nói làm chị lớn trong một gia đình đông con rất là khổ. Câu nói này có thể không đúng với thế hệ người Việt hiện nay nhưng hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh của chị tôi, một người con gái sinh ra tại Việt Nam trong thập niên 1940, một xã hội còn phần nào phong kiến lạc hậu.

Bố tôi thành hôn với mẹ tôi vào năm 1938 do sự sắp đặt của Ông Nội và Ông Ngoại của tôi, 2 trong số những vị quan lại cuối cùng của triều đại Nguyễn. Một năm sau anh cả tôi ra đời, năm sau đó là đến chị tôi và cứ thế mẹ tôi sòn sòn đẻ năm một hoặc ba năm hai...Như vậy là lúc chị tôi được 10 tuổi thì chị đã có 1 anh và 4 em. Khi bố mẹ tôi ra ở riêng thì anh cả của tôi được ông bà nội giữ lại nuôi vì vậy mà chị tôi trở thành người con lớn của gia đình phụ giúp mẹ tôi quán xuyến mọi chuyện...bế ẵm chăm sóc các em.

Bố tôi là Kỹ Sư Công Chánh của chính phủ thuộc địa Pháp đi công tác khắp Bắc Trung Nam và mẹ tôi thì xuất giá tòng phu nên luôn luôn dẫn con cái theo ông. Vào năm 1945 bố tôi đang công tác tại Thanh Hóa thì phần đất này bị Việt Minh chiếm,vì vậy mà gia đình tôi kẹt tại Thanh Hóa. Chính phủ Việt Minh bắt bố tôi làm việc ở Vạn Lại, thỉnh thoảng mới có phép về gập mặt gia đình. Trong khoảng thời gian này vì bố tôi ít có nhà, mẹ tôi lại tần tảo buôn bán ngoài chợ Thanh Hóa cho nên chị tôi hầu như phải gánh vác nhiều việc nhà: giữ em, lo cho các em ăn uống và nhiều chuyện lặt vặt khác mà mẹ tôi sai bảo...Chị tôi kể lại là những năm lúc chị 8 đến 10 tuổi chị thường phải cõng 1 đứa em trên lưng còn hai tay thì dắt anh kế tôi và tôi ra thăm mẹ buôn bán ngoài chợ Thanh Hóa. Kỷ niệm ghi nhớ là lúc chị 10 tuổi,mẹ tôi mới đẻ sanh đôi được ít hôm thì mưa bão làm sập một góc nhà, mẹ tôi thắp một ngọn đèn dầu sai chị tôi qua nhà người bác gần đó để xin giúp đỡ. Ngoài trời mưa bão tối đen như mực chị tôi sợ lắm không muốn đi, nhưng mẹ tôi nói “nếu con không đi thì ai đi bây giờ, mẹ còn phải ở lại trông các em”, chị tôi run sợ nhưng vẫn cố gắng mò mẫm trong đêm tối mưa gió lạnh để đến nhà người bác.

blank
Chị tôi 13 tuổi với 5 người em của chị (Hải Phòng 1953).

Vào năm 1951 bố tôi dàn xếp công tác mang gia đình trốn khỏi nơi Việt Minh chiếm đóng ở Thanh Hóa, về Hà Nội, xuống Hải Phòng làm việc và di cư vào Nam năm 1954. Trong khoảng từ năm 1951 đến năm 1961, mẹ tôi lại sinh hạ thêm được 5 người con nữa...Dĩ nhiên bên cạnh mẹ tôi, ngoài người làm, thì chỉ có chị tôi là người phụ giúp mẹ quán xuyến việc nhà, may vá quần áo và chăm sóc các em. Khi cần chị thay mẹ săn sóc 1 đàn em để mẹ yên tâm ra Huế lo tổ chức đám cưới cho anh kế tôi hoặc khi mẹ có việc phải đi xa.

Ngày còn trẻ chị cũng xinh đẹp và dễ thương có nhiều chàng trai theo đuổi. Thời là nữ sinh Trưng Vương có nhiều chàng kè kè xe đạp tán tỉnh chọc ghẹo chị... Rồi thời chị đi làm tại cơ xưởng của Công Binh VNCH cũng có nhiều chàng chiến binh cũng mong được làm bạn với chị, nhưng theo tục lệ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó chị không dám tiến xa hơn. Vào tuổi cập kê cũng có nhiều mai mối đến hỏi chị, nhưng mẹ tôi là người rất thương con cộng thêm cái quan niệm môn đăng hộ đối, cứu xét tông ti họ hàng khi gả cưới...cân nhắc thận trọng nên chẳng đám nào thành và chị thì luôn luôn vâng lời mẹ...để rốt cuộc ở vậy không lấy ai cả.


Chị lấy cái vui của mẹ và gia đình các em là cái vui của mình.Chị luôn mong muốn được quây quần với mẹ và các em. Biến cố 1975 làm mọi gia đình tan tác,bố và các anh phải đi “lao động cải tạo”,thay mẹ chị tôi thăm viếng,tiếp tế lương thực,thuốc men. Chị phụ giúp tài chánh cho gia đình bằng cách cuốn thuốc lá bỏ mối ngoài chợ và đan thêu áo len gởi ra miền Trung bán.Lúc các em đi vượt biên bị bắt,chị lặn lội đi thăm nuôi các em và tìm đường hối lộ công an để bảo lãnh các em ra. Khi anh và các em được thả ra từ trại tù cải tạo Cộng Sản tìm cách vượt biên bằng đường bộ và đường biển thì chị lo lắng biết bao...và chị cũng vui mừng biết bao khi các anh em, các cháu đến trại tỵ nạn an toàn. Niềm vui mừng tột độ của chị là khi chị và mẹ được sum họp đoàn tụ với các anh chị em chúng tôi ở hải ngoại vào năm 1991. Chị luôn luôn hãnh diện là sau biến cố 1975 toàn bộ gia đình chúng tôi có 11 anh chị em cùng tất cả con cháu đều lần lượt định cư tại Mỹ không mảy may suy xuyển một người nào.

blank
Chị tôi tại Mỹ.

Có thể nói là chị tôi suốt một đời ở bên cạnh mẹ tôi phụ giúp cho việc lo lắng chăm sóc gia đình. Bố tôi thì luôn công tác xa nhà chỉ có chị tôi là người ở bên cạnh mẹ khi mẹ sanh nở. Dù là ở bất cứ nơi nào như Thanh Hóa, Quảng Yên, Hải Phòng và Saigon...nơi mẹ sanh con chị cũng là người thay tã, bế em, cho em bú sữa bình …mà không hề than van. Lúc còn trẻ thì phụ giúp mẹ nuôi nấng, may vá quần áo, nấu nướng cho các em. Khi các em lập gia đình có con cái thì lại lo lắng chăm sóc cho các cháu.

Nhưng phải nói công lao to lớn của chị là săn sóc mẹ tôi vào lúc bà tuổi già sức yếu. Những năm gần đây mặc dù đã trên tuổi 70, chị tôi ở bên cạnh mẹ 24/24 lo chăm sóc cho bà từ miếng ăn thức uống và luôn luôn chiều theo ý mẹ. Những năm sau này khi mẹ phải ngồi xe lăn thì việc săn sóc càng ngày càng cực nhọc hơn. Tuy vậy dù khổ cực đến đâu cũng chưa thấy chị than thở điều gì.

Tình yêu chị dành cho mẹ thật là trọn vẹn và bao la mà không người nào trong đám anh chị em của tôi so sánh được.Các anh chị em tôi bận rộn với sinh kế hàng ngày, với gia đình riêng nên có tới chăm sóc mẹ cũng chỉ vài giờ,còn chị thì ở sát bên mẹ ngày cũng như đêm. Cái đáng quý ở nơi chị là chị hầu hạ,chăm sóc mẹ mà không bao giờ kể lể công lao khó nhọc cho ai biết.

Chị Diệp ơi,

Tất cả các anh em cùng với các cháu đều thương yêu, biết ơn và quý trọng sự hy sinh cả một đời của chị cho đại gia đình, nhất là việc tận tụy chăm sóc mẹ vào lúc cuối đời của bà. Nay chị 74 tuổi rồi, chúng em mong chị cố gắng giữ gìn sức khỏe và vui sống tuổi già. Chúng em cũng muốn thu xếp để chị đi chơi đây đó, nhất là về thăm lại quê nội Đông Ngạc, quê ngoại Quảng Yên như ý nguyện của Mẹ… và đến các nơi như Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nội… nơi mà chị hàng năm vẫn gửi tiền về giúp đỡ họ hàng cũng như người thân trước đây đã quen biết và thường nhắc nhở đến chị.

Người con thứ tư trong gia đình Pham-Huy-Quý: Phạm thị Thúy Mai (TV 59-66)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trái đạn đại bác nghiến răng tử thần xé không gian rít dài từ xa, bay qua xóm nhà lá, rớt chụp xuống khu cao ốc bên kia đường.
Người đàn ông, với cánh tay mặt buông thỏng và cánh tay trái co lại trước ngực đong đưa theo từng bước chưn,
Trong vòng chưa đày một tháng, kề từ giữa tháng Giêng năm 2013, mà Gia đình Luật khoa Việt nam chúng tôi ở hải ngọai đã mất đi ba thành viên đều có tên tuổi từ trước năm 1975 ở Saigon.
Sàigòn sau thế chiến vẫn còn trong tình huống viên ngọc nhiều tì vít thô sơ mới đập ra từ đá chưa giũa chưa mài, chỗ dung thân thích hợp cho những tay anh chị tứ chiếng giang hồ lưu linh đãng tử, căn cứ địa của đám lỡ thời sống tạm chờ cờ tới tay dộng trống rung chuông.
Tàu có mặt gần khắp Phi châu với tư thế hùng hậu nhằm mục tiêu hàng đầu là tìm nguồn cung cấp nhiên liệu, thực phẩm và khoáng sản. Nhưng họ không bỏ qua Âu châu và cả Mỹ châu. Thế giới ngày nay được Bắc kinh quan niệm theo cái nhìn quyền lợi sanh tử của họ.
Cách Hà-Nội chừng 100km về phía Nam theo Quốc lộ 1A, có cố-đô Hoa-Lư thuộc địa-phận xã Trường-Yên, huyện Hoa-Lư, tỉnh Ninh-Bình. Năm 968, Hoa-Lư là một vùng núi non hùng-vĩ và hiểm trở nên đã được chọn làm thủ-đô quốc-gia.
*Alfred D. Sulfridge, bác sỹ Trung Tá Không Lực Mỹ tại phi trường Trà Nóc, Cần Thơ. Hồi năm 1970 anh thường đến hợp tác làm việc với tôi tại bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa, Cần thơ. Bác sĩ Sulfridge là người bạn của tôi về chuyên môn, phẫu thuật, mặc dầu anh ta nhỏ hơn tuổi 2 tuổi.
Hình tượng ba con khỉ: con thì dùng tay che hai mắt, con thì dùng tay bịt hai tai và con thì dùng tay bịt miệng lại…đã nói lên sự khôn ngoan của người biết giữ lễ. Đây là một phương châm xử thế: Không nhìn những việc gì xấu, không nghe những lời nói xấu, không nói điều xấu xa đê tiện.
Đến nay thì phần lớn công luận đều thừa nhận hội nghị trung ương 6 là một thất bại thảm hại của phe Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Tuy nhiên, sở dĩ có nhận định đó là vì mức chờ đợi của xã hội đã lên quá cao cùng với các tuyên bố đầy hứa hẹn trước hội nghị, chứ khó có thể xem hội nghị 6 là thắng lợi của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.