Hôm nay,  

Sự Lựa Chọn Chính Thể

20/09/201400:00:00(Xem: 4255)
Đối với một quốc gia mà nói, việc lựa chọn chính thể cũng giống như tìm cho mình một con đường đi vậy. Con đường đó đúng hay sai, bằng phẳng hay gập ghềnh, hạnh phúc hay khổ đau, đều tùy thuộc vào quyết định tối quan trọng này. Chính vì như vậy, cho nên cần có sự tham gia ý kiến và quyết định của toàn dân. Trọng trách đó phải được người dân ủy nhiệm thông qua những cơ quan có đủ năng lực. Phải được cân nhắc và lựa chọn bởi một chính phủ đa thành phần, gồm có sự tham gia rộng rãi của tất cả các đảng phái, tổ chức và cá nhân. Vì rằng, nếu quyết định này rơi vào tay một cá nhân độc đoán hay đảng phái duy nhất thì sẽ dẫn đến sự thiên vị. Theo đó mà lợi ích tối cao của nhân dân cũng ngang nhiên bị tước đoạt.

Sức mạnh của một đất nước tùy thuộc vào phương pháp và cách thức mà người ta tổ chức quyền lực nhà nước. Cho nên cần phải có một hình thức chính thể đúng đắn, một cấu trúc nhà nước hợp lý, và chế độ chính trị tốt đẹp. Nếu 3 yếu tố này kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn, thì tiềm lực và sức mạnh của dân tộc sẽ được phát huy hiệu quả nhất, nhằm xây dựng một đất nước hạnh phúc và phồn vinh.

Bây giờ là thời đại của tự do dân chủ, khái niệm “Dân chủ” trở thành cơ sở lý luận, là mục tiêu của mọi nỗ lực chính phủ. Người dân có quyền lựa chọn bộ máy nhà nước, giám sát tính đúng đắn và hiệu quả của nó. Các cơ quan quyền lực này không có nhiệm vụ nào khác ngoài trách nhiệm phục vụ tổ quốc và nhân dân. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều theo chính thể cộng hòa dân chủ (là hình thức mà trong đó, quyền bầu cử và giám sát bộ máy nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân). Các quốc gia này được gọi là dân chủ. Mặc dù vậy, trên thực tế vẫn có những quốc gia tự nhận mình là “cộng hòa dân chủ” nhưng lại là một chế độ độc tài trá hình: Nói là dân chủ,nhưng chỉ có một đảng duy nhất được phép cầm quyền. Thực chất đó là những chế độ dân chủ giả hiệu, kẻ cai trị tự đặt ra những quy định nhằm hạn chế hoặc vô hiệu hóa quyền làm chủ của nhân dân. Trong số này, các nước Cộng Sản là những ví dụ điển hình nhất.

Điều cốt yếu trong quản lý nhà nước, là người dân có thể tham gia rộng rãi vào việc thành lập các cơ quan đại diện từ trung ương đến địa phương. Người dân thực sự được trao quyền làm chủ, chứ không phải một cơ quan hay đảng phái nào làm thay điều đó. Các quyền này phải được quy định cụ thể trong một bản hiến pháp dân chủ (đa đảng) thì mới có tính khả thi. Trong các chế độ độc đảng thì khái niệm “dân chủ” chỉ mang tính hình thức mị dân, quyền lực nhà nước thực chất nằm trong tay đảng độc tài.

Đối với chế độ chính trị, thì đó là những phương pháp mà bộ máy nhà nước sử dụng để thực thi quyền lực và quản lý đất nước. Cho nên, trong chế độ dân chủ thì quyền lực nhân dân được thực thi, đất nước phát triển dựa trên ý nguyện của người dân. Các quyền tự do dân chủ được phát triển rộng rãi mà không hề bị hạn chế. Ngược lại, trong thể chế độc tài phản dân chủ, ý chí của đảng cầm quyền được thực thi, trong khi quyền lực nhân dân lại bị tước bỏ. Để mị dân, chế độ độc tài ban phát một số quyền tự do, dân chủ hạn chế. Nhưng một khi người dân đòi hỏi các quyền đó ở mức cao hơn, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nước thì lập tức họ sẽ bị đàn áp.


Lịch sử văn minh nhân loại, đất nước nào cũng cố gắng lựa chọn cho dân tộc mình một chế độ chính trị thích hợp và tiến bộ nhất. Mục tiêu là để phát triển đất nước, nhân dân hạnh phúc, và dân tộc phồn vinh. Ở các quốc gia dân chủ hiện nay, chủ yếu tồn tại hai hình thức chính thể: Quân chủ lập hiến và Cộng Hòa.

Các nước có chính thể “Quân chủ lập hiến” đều có nguyên nhân lịch sử và chính trị riêng. Tuy nhiên vai trò của hoàng gia cũng chỉ mang tính biểu tượng, mà không ảnh hưởng đến quyền lực của nhân dân. Một số quốc gia quân chủ lập hiến tiêu biểu như: Anh, Nhật Bản, Hà Lan, Thái Lan…; đối với chính thể “Cộng hòa”, thì đây là hình thức tổ chức chính quyền phổ biến nhất ở các quốc gia dân chủ. Điểm tiến bộ nhất của nó là nhân dân được trao quyền lực một cách vô hạn định. Chính thể cộng hòa được phân chia thành hai hình thức: Tổng thống chế và Đại nghị chế. Trong đó thì Cộng hòa tổng thống là hình thức dân chủ trực tiếp, với vai trò to lớn của nguyên thủ quốc gia (tổng thống). Người dân trực tiếp bầu ra tổng thống chứ không phải là nghị viện (quốc hội).

Trong một thể chế dân chủ, người ta có thể lựa chọn đồng minh mà vẫn không bị phụ thuộc, không mất đi độc lập và chủ quyền. Vì các quốc gia dân chủ xử sự trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng luật pháp quốc tế. Trong thể chế độc tài thì lại khác, việc lựa chọn đồng minh hay quan hệ hợp tác là xuất phát từ lợi ích của đảng cầm quyền. Ví như quan hệ Việt Nam – Trung Quốc chẳng hạn. Mặc dù họ tuyên bố là quan hệ “đồng chí anh em”, nhưng thực chất là Việt Nam bị Trung Quốc lấn lướt trong mọi tình huống. Dẫn đến việc Trung Quốc ngang nhiên xâm chiến biển đảo của Việt Nam. Trong khi đó nhân dân Việt Nam phản đối thì lại bị chính phủ đàn áp.

Việc lựa chọn chính thể có vai trò rất quan trọng đối với một quốc gia, nó quyết định đường lối đối nội lẫn đối ngoại. Từ đó mà xác định hướng đi và phát triển của đất nước. Trên cơ sở đó, người ta có thể lựa chọn sự liên minh với các khối, hay đồng minh chiến lược. Cũng có thể đất nước đó lựa chọn trung lập (không tham gia bất cứ liên minh chính trị, quân sự nào), hoặc là trung lập tạm thời hoặc trung lập vĩnh viễn (Thụy Sĩ chẳng hạn). Tùy vào hoàn cảnh và nhu cầu, mà chính phủ sẽ lựa chọn cho quốc gia mình một vị thế thích hợp.

Tóm lại, muốn có một chính thể tốt nhất chúng ta phải đấu tranh quyết liệt để chấm dứt tình trạng độc tài toàn trị hầu có thể xây dựng một chính thể cộng hòa thực sự dân chủ qua con đường Tổng Tuyển Cử Tự Do.

Viết từ Việt Nam ngày 16/09/2014

Minh Văn (ĐVDVN) -- Nguồn: www.dangvidan.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 20/7/1969, hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin Aldrin đi vào lịch sử như là hai người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng thế nhưng sự kiện này bị một số nhà “lý thuyết âm mưu” lên tiếng phủ nhận. Căn cứ vào những điểm “khả nghi” trong tấm hình chụp Armstrong đứng cạnh lá cờ cắm trên Mặt Trăng, họ quả quyết rằng tất cả chỉ là chuyện dàn dựng và bức hình này chỉ được chụp tại một sa mạc ở Nevada. Nhưng bằng chứng của vụ đổ bộ ấy đâu chỉ duy nhất một tấm hình? Tàu Appollo 11 phóng từ mũi Kennedy trước con mắt hàng chục ngàn người và hàng trăm triệu người qua ống kính truyền hình. Hàng trăm ngàn thước phim quay được và chụp được khi tàu Appollo vờn trên quỹ đạo quanh mặt trăng, cảnh tàu con rời tàu mẹ để đổ bộ, cảnh các phi hành gia đi bộ và cả những túi đất đá mang về từ Mặt Trăng v.v. Chúng ta thấy gì ở đây? Những bằng chứng xác thực thì nặng như núi nhưng, khi đã cố tình không tin, đã cố vạch ra những âm mưu thì chỉ cần mấy điểm khả nghi nhẹ tựa lông hồng.
Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
Việt Nam và Trung Quốc đã ký 14 Văn kiện hợp tác an ninh Chính trị, Kinh tế-Thương mại và Văn hóa-Báo chí trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Tổng Bí thư Tô Lâm từ ngày 18 đến 20/08/2024. Trong số này, Văn kiện kết nối và thiết lập 3 Tuyến đường sắt giữa hai nước được gọi là “anh em” đã giúp Trung Quốc liên thông ra Biển Đông và bành trướng thế lực kinh tế...
Tại Campuchia, kênh đào Phù Nam Techo, trị giá 1,7 tỷ USD sẽ kết nối Phnom Penh và Vịnh Thái Lan, tượng trưng cho niềm tự hào dân tộc, an ninh và kết nối thương mại quốc tế. Người ta có thể cảm thấy như thế qua lời tuyên bố của Thủ tướng Campuchia Hun Manet và của ông Hun Sen, trong cương vị cố vấn, người đã chuyển giao quyền lực từ cha sang con vào năm ngoái...
Danh từ được tác giả dùng trong bài này không phải là danh từ theo tự loại mà là một thuật ngữ của Việt Cộng. Thuật ngữ Việt Công hay là danh từ Việt Cộng là những thuật ngữ, những từ được dùng trong nước dưới chính quyền Cộng sản Việt Nam. Ở trong nước người ta không dùng từ “Việt Cộng” mặc dầu Việt Cộng chỉ có ý nghĩa là Cộng Sản Việt Nam chớ không có nghĩa gì khác. Phải nói rõ ràng và dài dòng như vậy để tránh hiểu lầm và hiểu sai. Những danh từ đề cập trong bài viết này đa số là những danh từ kinh tế, vì chủ đề của bài viết là kinh tế, phân tích những ván đề kinh tế, nhận định về kinh tế chớ không phải chính trị, mặc dầu kinh tế không thể tách rời khỏi chính trị, xuất phát từ chính trị và tác động trở lại đời sống của mỗi con người chúng ta.
“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”! Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ? Cũng không đến nỗi trăng/sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.