Hôm nay,  

Sự Mầu Nhiệm

23/09/201400:00:00(Xem: 5031)

Tôi nhận được thư điện tử từ Hà Nội: Anh về ngay, Mẹ sắp mất.Sửng sốt, thẫn thờ, bàng hoàng vì cách đây một tháng, Bà cụ còn khỏe lắm mà. Hơn nữa còn hai ngày nữa là Tết. Ôi chao, bất cứ gia đình nào trong ngày Tết mà có tang được coi là Đại kỵ. Nhưng bổn phận làm con, tôi ra đặt vé máy bay, thu xếp hành lý trở về trong sự đau buồn này. Tôi cũng không quên lấy 3 đồng chinh bói một quẻ Kinh Dịch, cùng cầu trời khấn Phật phù hộ cho mẹ tôi qua khỏi. Kết quả quẻ Địa Hỏa Minh Di hiện ra. Quẻ rất xấu với cái ý tóm tắt: Qua sông chặt cầu, nghĩa là Mẹ tôi khó trở lại dương gian.

Về đến Hà Nội, chiều tối 30 Tết, phố xá đã lên đèn, rạng rỡ hơn những ngày thường, ngay cả những hàng cây cũng được mặc những cái áo bằng bóng đèn xanh, đỏ, tím, vàng. Nhà nhà đều đóng cửa im ỉm. Phố vắng tanh. Còn rớt lại một vài công nhân làm vệ sinh và giọn rác. Cảnh vật, không gian, và con người đương hoan hỉ chờ đón năm mới với bao niềm hy vọng. Cũng lúc đó đại gia đình tôi đau buồn, đau đớn trước cảnh Mẹ chúng tôi, từ gĩa cõi đời này.

Trong căn buồng nhỏ, tranh tối tranh sáng. Mẹ tôi nằm bất động. Tóc Bà trắng xóa tương phản với khuôn mặt tái xanh của người ốm. Hệt như nước từ thác Bản Giốc đổ ào ào xuống những thớt đá xanh xám sì. Tay Bà vẫn còn cầm một tràng hạt màu hạt dẻ niệm Phật. Ba năm trước Bà đã quy y tam bảo.

Mười một người con của Bà đã về đủ. Từ Mỹ, Úc, Sài Gòn, Hà Nội, đang đứng xung quanh Bà miệng lầm rầm vang lên, lúc to lúc nhỏ:

- Nam mô a di đà Phật.

Trứơc đó khoảng nửa tiếng, Bà nhúc nhích cái tay, lần hồi, chầm chậm lấy từ túi áo 200 đôla Mỹ, đưa cho Hiếu, con trai út. Rồi Bà xòe hết cả năm ngón tay khẳng khiu như cái quạt giấy, báo hiệu, chúng tôi hiểu rằng: Bà chẳng còn giữ cái gì trên đời nữa trước khi “ĐI”. Lúc này Bà đã cấm khẩu, lặng lẽ đi vào cõi “Mê”.

Ngọn đèn 100 wát trên trần nhà hình như tối hơn. Ánh sáng vàng nhạt của nó đang chuyển dần sang mầu đỏ quạch. Ngoài ngõ trời tối mịt. Đây đó tiếng pháo nổ đì đẹt. Ngày mai mở đầu một năm mới thì đêm nay Mẹ tôi bước sang một thế giới khác: Thế giới của cõi Âm. Giây phút cuối cùng của một đời người. Trọng thể vô cùng.

Tất cả anh em chúng tôi đều nhận thấy.

- Nam mô a di đà Phật của mười một con người ầm vang, như tiếng sóng thủy triều ào ào tiến dần vào bờ của biển cả mênh mông. Hết đợt này,đến đợt khác, Mẹ tôi bắt đầu thở gấp, mắt vẫn nhắm nhưng da mặt ngày càng xám đi...như chờ đợi cái phút “Ấy” đến. Nhưng kìa,tôi không tin vào mắt mình nữa. cánh tay phải Bà động đậy, từ từ dâng cao với bàn tay nhìn rõ những lóng, đốt xương cùng những mạch máu nhỏ li ti. Bàn tay ấy uốn éo như đang múa Chèo. rồi chụm lại chỉ còn ngón tay trỏ hướng lên trần nhà. Bà đang bắt “Quyết”. Đồng hành với nó, cánh tay trái ve vẩy, lúc ngả sang trái, lúc ngả sang phải như đang chèo đò. Cùng nhịp múa, miệng Bà phát ra tiếng thanh: ơ,ơ,ơ,.Tiếng hát chầu văn mà ngày bé tôi được xem những buổi Hầu Đồng ở đền hàng Quạt.

Cảnh tượng hãi hùng. anh em chúng tôi, có người khóc réo lên:

- Ối Mẹ ơi, Ối Mẹ ơi, Mẹ bỏ chúng con rồi...cùng với bè đệm trầm trầm: Nam mô a di đà Phật thành một khúc tráng ca tiễn đưa Người, cùng thần Chết đi nhanh về cõi vô cùng.

Tay vẫn múa, miệng vẫn: ơ,ơ,ơ nhưng nét mặt Mẹ tôi tỏ ra lo lắng, sợ hãi như nhìn thấy những âm binh về bắt Bà, hay Bà nhìn thấy rất rõ chân dung khủng khiếp của thần Chết??

Chúng tôi càng khóc to và niệm Phật nhanh hơn. Nó gần như đoạn kết của đêm 30 Tết này: Mẹ tôi sẽ buông tay xuống. Im lìm chấp nhận cái Chết, chấp nhận một trongTứ Diệu Đế bất tử của đức Phật: SINH LÃO BỆNH TỬ.


Ơ kìa, quả thực tay Bà đã buông xuống. Bàn tay đã chắp lại trên mặt chăn bông. Vẻ mặt lấy lại sự thanh thản, mặt ửng hồng hơn trước. Xóa dần những vết nhăn của sự hoảng loạn trước cuộc Tử Ly. Chợt miệng Bà mấp máy. Rồi chúng tôi đều nghe thấy câu đầu tiên sau khi “cấm khẩu “:

- Trời cho sống rồi. Trời cho sống rồi.

Kèm theo câu nói. Bà dần dần mở mắt.Nhìn thấy các con khóc, Bà còn nói:

- Trời cho sống rồi. Việc gì phải khóc.

Quả thực, miệng tôi vẫn: Nam mô a di đà Phật, nhưng có cảm giác rờn rợn trước thay đổi cực kỳ đảo ngược của Mẹ tôi. Từ trạng thái lạ lùng“cấm khẩu” rồi ơ,ơ,ơ rồi lại nói được.

Chưa chắc chính Mẹ tôi nói,mà có ai mượn xác, nói thay cho Bà ?? 10 phút sau trôi qua. Mẹ tôi vẫn nằm, nhưng lưng đã tựa vào gối cao. Mắt Bà nhìn chúng tôi một lượt. Bà nhìn chung quanh căn buồng. Bà nhìn xuống hốc tối gầm giường,rồi vụt một cái Bà nhìn lên trần nhà. Chỗ đó ánh điện không lan tới,tạo một khoảng tối, mờ mờ ảo ảo thật trừu tựơng, quái đản như tranh của danh họa Eduar Munch.

Mẹ tôi giơ cả hai tay xua đuổi, hình như Bà nhìn thấy những Âm binh về bắt Bà. Và chỉ có Mẹ tôi nhìn thấy. Còn chúng tôi không nhìn thấy gì – ngoài một góc tối huyền bí lạnh lùng, sờ sợ.

Tay xua đuổi, miệng Bà hét to:

- Đi. Đi. Trời cho tôi sống rồi.

- Đi.Đi. Trời cho tôi sống rồi.

Cùng lúc đó,khoảnh khắc đó. Lũ chó bên hàng xóm đồng loạt tru lên trong đêm đen như mực. Tôi nghe thấy Thắng, em rể, vì trong buồng đông người quá nên Thắng đứng ở sân. Thắng ngừơi to lớn bị kẻ nào đó bóp cổ kêu thảng thốt. Tôi vội chạy ra sân, cách xa tôi không đầy năm thước một con lợn trắng nhởn không biết ở đâu lại đương rúc ủi hàng rào, kêu eng éc, hòa nhịp với tiếng kêu the thé của con chim lợn đang đậu trên cành Hồng nhà tôi..Bàu trời bỗng biến dạng. Xuất hiện những kẽ nứt xanh, xám nhỏ như tóc Mẹ tôi chạy suốt từ Bắc xuống Nam cả một khoảng trời rộng lớn, lóe trong vài giây phút, sau đó lại trở lại đêm tối mịt mùng.

Thắng nhờ có sức khoẻ giẫy rụa, thoát được vòng tay siêu hình bóp cổ.Nhưng tiếp theo cảm giác sa xầm mặt mày ập đến, đầu óc đau như búa bổ. Sợ quá,Thắng nhảy ngay lên xe máy, phóng thẳng về nhà mình, không kịp nói với tôi lời nào. Lúc Thắng rời nhà, lập tức con chim lợn bay vút đi, vứt lại tiếng kêu ai oán. Con lợn trắng biến mất. Đến nhà Thắng cố leo lên tầng ba, thắp hương kêu cầu Cụ Tổ phù hộ. Sau đó thiếp đi, không biết gì nữa.

Sáng mồng một Tết. Mẹ tôi tỉnh lại hoàn toàn. Các con cháu Cụ đến chúc Tết như không có chuyện xẩy ra đêm 30.

Nhưng hai tháng sau, tới ngày giỗ Bố tôi, Mẹ tôi chăm chăm nhìn vào bức ảnh thờ Ông. Bà ra dấu hiệu cho cô con gái út, thúc dục làm cơm cúng giỗ. Ngày giỗ họ hàng quê quán, cùng con cháu ra ăn giỗ, trong cả buổi sáng. Buổi chiều, Mẹ tôi, nằm chắp tay lên trán. Tóc Bà vấn gọn. Tai đeo khuyên vàng. Môi phớt đỏ mầu hoa lựu. Hôm nay Bà ăn trầu. Bà tự nhiên mặc chiếc áo dài Mông Tự màu tím mận. Nét mặt hân hoan và toại nguyện. Bà từ từ nhắm mắt. Tim Bà ngừng đập trong sự yên nghỉ đời đời. Bà thọ 96 tuổi. Vậy hàng năm gia đình tôi chỉ duy nhất có một ngày Giỗ. Sáng giỗ Bố, chiều giỗ Mẹ.

Sực nhớ quẻ bói Kinh Dịch “Địa Hỏa Minh Di”đã thực sự ứng nghiệm. Bà không qua khỏi mà sự sống chỉ kéo dài qua cái Tết. Mẹ tôi, đã chờ, chọn cái ngày gặp Bố tôi trong ngày giỗ. Rồi sau đó Ông Bà cùng Đi vào cõi Vĩnh hằng với cái áo dài Mông Tự mà Bố tôi rất thích mỗi khi nhìn thấy Mẹ. tôi mặc.

Nguyễn Đại Giang -2013

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
GS-TS Nguyễn Mạnh Hùng: ”Nó (bài viết) không giải thich rõ được làm sao có nhà nươc pháp quyền khi tư pháp không độc lập; làm sao có dân chủ nếu chỉ có một đảng, không có cạnh tranh chính trị và dân không có quyền chọn lưa người đại diện…”
Tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nồng nàn đến tất cả quý Phật tử đang cử hành ngày Đại lễ Vesak, một sự kiện thiêng liêng đối với hàng triệu người Phật tử trên thế giới. Khi chúng ta tôn kính ngày Đản sinh, Thành đạo, và Niết bàn của Đức Thế Tôn, thì giáo lý của ngài có thể truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta. Và khi từng gia đình con người chịu khổ đau do ảnh hưởng cơn đại dịch COVID-19, thì bài kinh Phật nhắc nhở chúng ta rằng: “Vì muôn loài chúng sinh bị bệnh, nên ta cũng bệnh.”
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ. Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp. Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ thân yêu, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời
Các cuộc xung đột giữa Do Thái với Palestine cùng khối Ả Rập là vấn đề nan giải cho Hoa Kỳ lẫn thế giới bởi Do Thái không hề nhượng bộ, luôn có những hành động cứng rắn và trả đũa tàn bạo. Cuộc xung đột hiện nay xảy ra khi Do Thái trục xuất sáu gia đình Palestine tại Đông Jerusalem, là điều mà Do Thái từng bước thực hiện với người dân Palestine từ nhiều năm qua.
Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.