Hôm nay,  

Thời Của Sư Phụ

14/02/201500:00:00(Xem: 4632)
Báo Xuân hay Báo Tết?

Báo chí Việt nam hằng năm, cứ đến ngày Tết, giử truyền thống gần như bất di, bất dịch là cho phát hành một số báo đặt biệt “Số báo Xuân”. Khi số báo Xuân có nhiều bài vở về biên khảo, văn chương,… hơn thông tin thường ngày còn được gọi là “Giai phẩm Xuân”.

Báo Xuân phát hành xong, nhà báo vẫn tiếp tục những số báo thường ngày cho đến ngày nghỉ Tết. Số báo cuối năm thường cũng nhiều trang, nhiều màu, hình bìa lộng lẫy và bên trong cũng có nhiều bài nhắc lại năm củ như tổng kết, liên quan tới năm mới như gởi gắm ước mơ. Đó là sốt báo Tất niên. Giá bán cao hơn giá báo hằng ngày. Một dạng báo Xuân thu ngắn!

Nghỉ Tết xong, nhà báo trở lại làm số báo đầu năm gọi là số Tân niên. Báo cũng nhiều trang, cũng hình bìa màu mè,…

Chắc chỉ có báo Việt nam mới có Báo Xuân. Ở Việt nam, vào đầu thập niên 60, còn tờ nhựt báo pháp ngữ “Le Journal dExtrême-Orient” không có số báo Xuân như báo Việt nam.

Nhưng báo Xuân Việt nam xuất hiện từ năm nào?

Có lẽ Đông Pháp Thời Báo Xuân xuất hiện năm Mậu Thìn, 1929, là tờ báo Xuân đầu tiên ở Việt nam. Từ năm sau, các báo tiếp theo làm báo Xuân là Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, năm 1930, Công Luận năm 1931, Trung Lập năm 1933, Đuốc Nhà Nam năm 1935,…

Báo Xuân là số báo dành cho năm mới nên báo nhứt định phải có bài dành riêng cho năm đó. Năm con gì, người ta sẽ làm thịt đủ món con vật đó, từ văn chương, bói toán, y lý, dinh dưởng, ẩm thực, …

Nhưng ở hải ngoại nói báo Xuân thì không đúng. Một nghịch lý nổi cợm bất kỳ ở đâu. Nói báo Tết đúng hơn nhưng đã là truyền thống nên không thay đổi được.

Vậy Báo Xuân Việt nam năm nay 2015 nhứt thiết phải nói tới con dê.

Mà nói tới con dê là điều cấm kỵ. Một thứ phạm húy hay nghiêm trọng hơn, là phạm thượng. Vì nói tới Sư Phụ. Theo đạo lý thánh hiền thì Quân Sư (phụ) …làm đầu. Nhưng tại sao người làm báo lại không biêt kiêng cử?

Tuổi Dê hay tuổi Mùi

Theo sách bói toán, Dê vì hiện thân Sư Phụ nên rất thanh lịch, quyến rũ, yêu nghệ thuật,…Từ đó người ta luận ra người sinh ra ở năm dê cũng vô cùng sáng tạo. Họ tinh tế trong cách cư xử và luôn quyến rũ khiến nhiều người ngưỡng mộ. Nhứt là phái nữ.

Con gái tuổi dê/mùi rất thưận lợi về tình yêu. Họ thẳng thắng bày tỏ tình cảm với người mình yêu, quan tâm chăm sóc người yêu. Trong đời sống gia đình, người phụ nữ tuổi mùi đảm đang, biết giử gìn hạnh phúc gia đình.

Con trai tuổi mùi chân thành với tình yêu, chết bỏ cho tình yêu nên khiến người yêu hài lòng. Họ chung thủy với tình yêu, dốc hết sức lực xây dựng gia đình hạnh phúc.

Phải chăng vì vậy mà người đời ca ngợi tuổi mùi và than trách thân phận không sanh nhằm tuổi mùi:

“Người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi,
Em đây luống những ngậm ngùi tuổi Thân” (Ca dao).

Vận mệnh người tuổi mùi là sung sướng, cả nam lẫn nữ. Còn năm ngọ cũng là năm thành đạt cho người sanh vào năm này. Hai năm liền đều tốt:

“Năm Ngọ, mã đáo thành công
Năm Mùi, dê béo, rượu nồng phủ phê” (Vè miền quê)

Dê và Mùi

Mùi sao là Dê được? Chữ hán Dê là Dương kia mà? Các con giáp khác cũng vậy. Năm Ngọ là năm Ngựa. Không ai nói năm Mã bao giờ. Vậy Mùi, Ngọ không phải là tiếng hán Việtn mà là tiếng Việt thuần túy? Cỏ May có đem điều này hỏi một Cụ Đồ ở Paris thì cụ cũng chịu thua.

Trong gần đây có đọc hai học giả về Việt nam: Ông Nguyễn Cung Thông ở Melbourne, Úc và Ông Đặng Tiến ở Pháp. Cả hai ông đều giải nghĩa Mùi đúng là Dê theo chữ Việt cổ. Và Mùi còn đọc là Vị, chữ hán cổ và cách đọc này phổ thông hơn (theo Thiều Chửu).

Mùi/Vị có nghĩa liên hệ tới giác quan là khác tuy cùng gốc chữ (từ nguyên). Riêng chữ Vị có nhiều nghĩa hơn và ghép với nhiều chữ khác còn lưu hành ngày nay. Như “Vị lai, Vị thành niên, …

Ông Nguyễn Cung Thông nhấn mạnh sự tự tin của ông: “Tóm lại, ta có cơ sở rất vững chắc để kết luận âm Mùi là âm cổ hơn của Vị. Không những thế, phạm trù nghĩa của Mùi tiếng Việt chỉ giới hạn trong các ý chỉ 12 con giáp”.Nhưng người ta không dùng chữ Mùi thay cho Vị để nói “Mùi hôn phu - Chồng chưa cưới, Mùi thành niên – Chưa tới tuổi thanh niên.

Cách dùng chữ Mùi như trên tương ứng với nghĩa cổ nhất của Mùi chỉ thời gian/Thập Nhị Chi.

Tác giả Đặng Tiến nói rỏ và đơn giản Mùi/Vị có nghĩa là Dê, tức năm Dê hay năm Mùi. Còn ông Nguyễn Cung Thông thì cắt nghĩa theo khoa học nên rất phức tạp. Người không giỏi chữ Hán và chữ Nôm khó theo dõi. Cỏ May chỉ biết nhắm mắt tin theo lời gỉải thích của ông mà thôi.


Ở Miền Trung có bài hát ru em trong đó có chữ Mùi/Muồi. Không biết phải khi viết lại từ lời hát, người ta tôn trọng luật chánh tả mà viết mùi thành muồi?

“Ru em buồn ngủ buồn nghê
Con tằm chín đỏ, con dê chín mùi (muồi)
Con tằm chín đỏ để lại mà nuôi,
Con dê chín mùi (muồi) làm thịt em ăn”.

Dê là biểu tượng giàu ý nghĩa

Theo sách vở, Dê xuất hiện từ thời tiền sử cùng với loài người. Dê có mặt trong đời sống vật chất và tâm linh của lơài người. Thời Hồng Bàng, người Việt đã biết "giết trâu dê làm đồ lễ". Nghĩa là con dê đã được nuôi làm gia súc và sử dụng vào việc tế lễ.

Biểu tượng Dê khá phức tạp. Theo thần thoại hi-lạp, Dê Cái là hình ảnh đáng kính yêu vì là nghĩa mẫu của thần Zeus, vị thần của các thần. Dê còn là hình ảnh con người gian nan vượt núi trèo non để mưu sinh và đeo đuổi lý tưởng. Sừng dê cái biểu tượng sức sản sinh và sự phồn thịnh.

Ngược lại, dê đực tượng trưng cho sức mạnh nam tính, sự hùng dũng và nhu cầu tính dục. Mà thật vậy, chỉ cần một con đực có thể phục vụ cả đàn dê cái mà vẫn giử được phong độ tay chơi như thường.

Trông gương Dê bản lảnh như vậy, người đời ai mà không bái phục nên Dê mới được tôn lên hàng Sư Phụ!

Tuy vậy, miệng đời thường ác nên biêu ríu Dê. Người ta gọi những người đàn ông thấy phụ nữ là muốn nhảy xỏm tới là Dê. Người dê thiếu văn minh bị đặt tên là dê xồm và còn bị xỉ vả nặng lời:

Dê xồm ăn lá khổ qua

Ăn nhằm sâu rợm, chết cha dê xồm:

Hoặc ác hơn khi người phụ nữ bị dê thiếu lịch sự, không chịu được nữa, bèn nguyền rủa:

Phượng hoàng đậu nhánh sa kê
Ông thần không vật mấy thằng dê cho rồi.

Kẻ dê ra vẻ đạo mạo thì đó là dê cụ. Người thấy gái đẹp thì tìm cách kín đáo “tiếp cận” bằng thái độ vì không dám ngỏ lời bị mang tiếng là người có máu dê.

Chưa đủ. Tên Dê còn được dùng thành động từ: dê gái.

Thật tội nghiệp cho Sư Phụ. Người ta chê cười Sư Phụ nhưng trong thâm tâm ai cũng mong muốn được bản lảnh như Sư Phụ.

Nhưng vì khó tiếp thu được tài đức của Sư Phụ, người đời nghĩ bắt Sư Phụ bỏ vô bụng thì chắc hưởng được phần nào của Sư Phụ. Vậy là họ ngưởng mộ Sư Phụ theo văn hóa ẩm thực và dinh dưởng.

Dê béo là dê thịt ngon nhất, một món ăn khá hấp dẫn được kể một trong ba cái thú vị mà con người ca ngợi, không ai là không thèm khi nói đến. Tuy nó thiên về vật chất quá, nhưng cũng là người trần mắt thịt mà, xin đừng chấp. Vả lại cũng vì Sư Phụ khiêu khích thôi:

Thế gian, ba sự khôn chừa

Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ (Ca Dao).

Ăn được thịt Sư Phụ không khác gì ma quỉ thèm ăn được thịt Đường Tam Tạng để sống thọ ngàn năm. Ăn thịt Sư Phụ thì thanh niên chạy rong khắp xóm làng, các cụ bảy tám mươi thì khỏi cần phải 1 viên viagra để giúp đi tiểu cho khỏi ướt mủi giày, mà còn khôi phục lại thời oanh liệt trong giấy lát.

Chính Cố Giáo sư Đông Y Đỗ Tất Lợi quả quyết: ” Thịt dê có tánh nhiệt và có tác dụng trợ dương, bổ huyết, rất tốt cho phụ nũ mới sanh nở ”. Ngày nay, người ta biết rỏ thịt dê bổ dưởng, không mở, không có cholesterol, cho nhiều chất dinh dưởng hơn cả thịt bò.

Hầu như tất cả bộ phận của cơ thể dê đều có thể xử dụng để làm thuốc. Dái dê và thận dê giàu tánh bổ dương. Xương nấu cao. Thị dê có tác dụng giải độc, bổ huyết, trị choáng váng, đau lưng, chóng mặt, nhức đầu, …

Thật tội nghiệp cho Sư Phụ. Thân của Sư Phụ, người đời làm thịt để họ bồi dưởng. Lúc khỏe mạnh, Sư Phụ còn ra sức kéo xe phục vụ nhà vua vào buổi tối. Nhưng vai trò của Sư Phụ là lãnh đạo nhà vua vì Sư Phụ đi đâu, nhà vua theo đó:

“… Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào …” (Cung oán)

Năm nay, Sư Phụ tới, phải chăng là thời của Sư Phụ:

“Mã đề, dương cước, gian hùng tận …”? (Sấm Trạng Trình: anh hùng tãn)

Xưa nay, Sư Phụ đã bao nhiêu lần xuất hiện nhưng tình hình xứ Viêt nam của Sư Phụ chi tồi tệ thêm dưới chế độ cộng sản. Lời tiên tri của Cụ Trạng Trình không ứng nghiệm. Phải chăng vì Cu Trạng dạy “anh hùng tận ” mà ở Việt nam với cộng sản không có anh hùng? Lénine, Staline, Mao đều là những tên gian hùng. Hồ Chí Minh là tên tà-lọt của trùm gian hùng.

Xin mời nghe một bà mẹ ở Hà nội định nghĩa anh hùng: “ Con ơi! Con nên nhớ đảng ta là đảng anh hùng. Con ra tới ngò là gặp ngay anh hùng. Đi, con nhớ cẩn thận khóa xe đạp bằng 6 khóa. Con nhé. Cả gia tài của nhà ta đó!”

Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.