Hôm nay,  

Chữ Nghĩa

18/03/201516:03:00(Xem: 6148)
Chữ Nghĩa
 
 
 
 
blank
 
 
 
 
Lời mở đầu:
 
Người viết mạn phép bàn về cách sử dụng một số chữ thông dụng được dùng hàng ngày dựa trên kiến thức và kinh nhiệm bản thân, còn rất phiến diện.  Đúng hay sai còn tùy vào hoàn cảnh và sự thẩm định của mỗi đọc giả. 
 
TVG
 
*
Vấn đề giao tiếp xã hội và truyền thông hàng ngày cũng giống như hình ảnh một cái xa lộ.  Những bảng chỉ dẫn, bảng hiệu trên xa lộ tương tự như những chữ và lời nói được dùng trong khi viết hay nói.  Có chữ làm lưu thông tốt đẹp tới nơi tới chốn, có chữ ngược lại làm lưu thông bế tắc, lãc hướng thêm. Nhiều chữ làm người đọc cảm thấy bực bội, hoặc xem như rào cản không cho người khác có cơ hội biểu lộ ý kiến (hay lưu thông) riêng của họ.
 
Có nhiều chữ rất thông dụng vậy mà khi nói ra là dường như thấy ngay có dấu hiệu “Này! Phải thận trọng!!!” Có chữ làm người đọc hay người nghe phải cất công để ý đến những câu đi tiếp theo ngay sau đó mới hiểu rõ câu chuyện.  Nếu có một cách nào loại bỏ bớt loại chữ “không đáng phải coi chừng” trong đời sống thì sẽ làm người chung quanh tin tưởng, thân thiện với mình hơn bởi vì họ hiểu ngay là mình muốn nói gì, không cần phải suy nghĩ thêm hoặc phải hỏi thêm cho ra ngọn ngành, mất thời giờ.  Các dòng kế tiếp sẽ làm sáng tỏ cái lợi ích này của sự rành mạch này.
 
Trước khi đi vào vấn đề, xin đề nghị hai nguyên tắc căn bản để ý quý vị tùy tiện là:
 
- Nếu người nghe chỉ hiểu một phần của câu chuyện thôi, họ sẽ có khuynh hướng đoán già đoán non kết cục của câu chuyện.
 
- Muốn xem cách diễn đạt có hiệu quả hay không thì cứ nhìn vào kết quả của cuộc đối thoại, tức là những phản ứng, phản hồi từ người nghe.
 
Tùy trình độ và mức độ chấp nhận của người nghe, người nói linh động đổi cách nói chuyện, nhiều khi thay đổi cả bố cục câu chuyện nếu thấy kết quả không đúng như mình nghĩ. Chỉ những người được huấn luyện, chuyên nghiệp mới biết cách thay đổ cách nghe của người nghe.  Vấn đề làm thay đổi cách nghe không dễ dàng chút nào!!!
 
 
 Chúng ta – Chúng tôi – Chúng mình…
 
Một vài thí dụ:
 
“Chúng tôi chờ đợi anh chị đến thăm dịp Tết này.”
 
“Đừng bận tâm. Chúng ta sẽ phải giải quyết mọi chuyện một cách ổn thỏa.”
 
“Chúng ta ăn ba bữa một ngày.”
 
Những chữ “Chúng ta,” “Chúng tôi” dùng ở các câu nói ở trên mở và ngay sau đó đóng cuộc đối thoại, không để cho ngưởi nghe có cơ hội muốn diễn đạt, phát biểu ý kiến cá nhân của họ.  Chẳng hạn sẽ có người muốn nói là:
 
“Tôi ăn tới bốn bữa một ngày cơ;”
 
Hay:
 
“Tôi chỉ ăn có hai bữa một ngày thôi.”
 
Chữ “Chúng ta” dễ đưa đến sự bất đồng ý; mặc dù cả hai bên đã dường như đồng ý với nhau từ đầu rồi.  Thí dụ:
 
Cô vợ nói:
 
“Chúng mình có một ngày cuối tuần thật đẹp phải không anh?”
 
Anh chồng:
 
“Thì cũng OK thôi!”
 
Vợ:
 
“Cái gì?  Em tưởng anh cũng thấy hài lòng chứ.”
 
Chồng:
 
“Anh đồng ý.  Anh chỉ mong là mình ở một cái Hotel đỡ đắt tiền hơn.”
 
Trong mẩu đối thoại ngắn này, anh chồng có vẻ cũng thích cuộc nghỉ cuối tuần đấy; nhưng chị vợ dùng 2 chữ “Chúng mình” hơi vội vàng đã lấy mất đi cái cơ hội để cho anh chồng có một nhận định riêng của anh ta…  Thực tế, cả hai vợ chồng đã đồng tình với nhau vợ về một vấn đề chung là “cuối tuần vui vè”; nhưng lại có 5% bất đồng ý của anh chồng về “giá cả” của Hotel.
 
Như vậy chữ “Chúng ta” đã được người nói dùng có ý muốn tránh sự “bất đồng tình” của người nghe về sự một việc mà chính mình muốn câu trả lời (kết quả của câu chuyện) sẽ như mình muốn.
 
Tạm thời đề nghị một vài thay đổi cách nói:
 
Câu:
 
Hôm nay, Chúng ta cần phải dọn cho sạch sẽ cái sân sau nhà.”  
 
Đổi thành:
 
Tôi cần anh dọn cho sạch cái sân sau hôm nay.”

Câu:
 
Chúng ta cần bản báo cáo hoàn tất vào ngày mai.”
 
Đổi thành:
 
Tôi sẽ đưa cho anh cái địa chỉ để anh gởi bản báo cáo ra ngày mai.”
 
Như vậy câu chuyện sẽ có kết quả rõ ràng.
 
 
Cái ấy - Cái đó – Ấy
 
Cách diễn đạt tốt thường dùng những chữ chính xác và cụ thể.  Chữ “Cái ấy” là chữ rất mơ hồ.  Người nghèo nàn chữ nghĩa thường dủng hay chữ “Ấy,” “Cái ấy” vì họ không có sẵn chữ nào để dùng cho thích hợp với hoàn cảnh ngay lúc câu chuyện đang tiến hành (chậm tiêu!?) đã vậy, họ còn nghĩ là người nghe đã biết “Cái ấy” mà họ muốn nói là cái quái gì rồi?! (really?)
 
Bài thơ “Từ ấy” được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu tay của thi nô:
 
“Từ ấy” trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
(Tố Hữu – Bài thơ “Từ ấy” – 1938)

Vì sự mơ hồ lơ lửng con cá vàng của chữ mở đầu “Từ ấy,” đành phải đoán là thi nô Tố Hữu muốn ám chỉ là “từ những ngày đầu của phong trào cộng sản quốc té (?)” và “trong tôi bừng nắng hạ” là sự “giác ngộ” cái lý tưởng cha căng chú kiết “Mác Lê Nin” trong con người của thi nô Tố Hữu…  Tố Hữu ám chỉ là một chuyện.  Đối với dân bần cố nông “thành đồng cách mạng” ít học hay thành phần có học nhiều nhưng “phản động” thì việc ám chỉ này lại hỏng!  Họ không hiếu “từ ấy” là “từ cái mả mẹ gì?” Tuyên truyền mà “ấy” với “á” thì lại thành “ấy ấy ” Thật “phản tuyên truyền” thôi.
 
Đọc tiếp các thí dụ khác sau đây trong các câu nói dân gian:
 
Chuyện “ấy” lại tiếp tục xẩy ra…
 
Tôi không chụi nổi cái “ấy.”
 
Anh định đối phó với vấn đề “ấy” như thế nào?
 
Ấy” là một chữ khá rộng lớn, đủ mọi kích thước, đủ khía cạnh.  Ngay từ đầu, “Ấy” cần phải được định nghĩa rõ ràng. Nếu câu chuyện của “cái ấy” hơi dài thì thỉnh thoảng dùng chữ “gốc” / chữ nguyên thủy  (cho bớt “ấy” đi) để tránh hiểu lầm; nhất là sự hiểu lầm của những người đến sau, đến trễ không có cơ hội theo dõi câu chuyện một cách trọn vẹn. Nếu câu chuyện có đầy đủ “Người nào?” “Cái gì?” “Khi nào?” Ở đâu?” Tại sao?” và “Thế nào” (5 W’s – Who, What, When, Where, Why và 1 H – How) thì chữ “Ấy” / “Cái ấy nếu được dùng cũng sẽ dễ hiểu.
 
 
Nhưng – Tuy nhiên
 
Chũ “Nhưng,” “Nhưng mà,” “Tuy nhiên…” là chữ “bất trắc,” nối hai ý tưởng gần như đối nghịch với nhau với nhau – một tốt và một không tốt.  Cái ý tưởng đưa ra trước thường có ý tốt tương tự như lớp đường ngọt bọc ngoài viên thuốc đắng.  “Chung” (đoạn cuối) và “Thủy” (đoạn đầu) có ý trái ngược nhau.  Đây là một cách diễn đạt sự bất đồng ý trong cách nói chuyện.  Thí dụ:
 
“Công việc cắt cỏ trong vườn của anh tốt lắm, nhưng anh quên tỉa cho gọn mấy cái cạnh vườn sát đường đi.”
 
“Các điểm trên Học bạ của con nói chung rất tốt, nhưng con cần cố gắng hơn một chút về môn toán.”
 
Vấn đề ở đây là “cái không tốt” có quan trọng không?  Cần sự sửa sai không?  Nếu câu trả lời là “Có” thì nên tách “vấn đề Tốt” và “vấn đề Xấu” ra làm hai; rồi giải quyết từng phần một.
 
Bố: “Các điểm tổng quát trên Học bạ của con rất tốt.”
 
Con: “Con cám ơn Bố.”
 
Bố: “Bố quan tâm về điểm toán của con vì nó thấp hơn điểm của những môn khác.  Môn Toán có khó với con quá hay không?”
 
Để ý là trong đối thoại làm thí dụ ở trên, ông Bố nêu ra một lúc cả 2 vấn đề (Tốt và xấu) một cách riêng biệt mà cả hai đều thích đáng.  Đứa con không cảm thấy buồn lòng.  Theo tâm lý thông thường, chữ “nhưng” làm cho người nghe, nhất là trẻ con, chỉ nghĩ, nhớ tới những cái “negative” thôi.
 
 
Nên – Phải
 
“Nên” và “Phải” được dùng để khuyên, khuyến khích (motivate) người nghe.  Thực ra, người nói không cần dùng đến “Nên” và “Phải” vì không hai chữ này xét ra không cần thiết để đạt được ý định mà người nói muốn.  “Nên” và “Phải” dường như muốn ép buộc người nghe làm một việc gì!  Thí dụ:
 
“Tôi nghĩ anh nên gọi mẹ anh.”
 
 “Em phải dành dụm thêm tiền để còn trả nợ.”
 
“Nên” và “Phải” có thể làm người nghe cảm thấy một là “bị trách móc” hai là “bị cho là không biết quyết đoán.”  Người nói “Nên” và “Phải” tự cho là:
 
- Mình có thẩm quyền bàn về tình hình của câu chuyện.
- Chỉ có lời nói của mình mới có ý nghĩa.
- Mình có thẩm quyền chỉ bảo người khác phải làm theo ý mình.
 
Thực tế ít khi gặp hoàn cảnh nào như vậy…  Mỗi người đều có cái quyền tối thượng phán xét về hành động của chính mình.  Không phải chờ đến người khác bảo mình làm cái này cái nọ; hoặc không muốn ai bảo mình phải làm bất cứ cái gì.  Ngay cho chính bản thân mình cũng vậy, mình dùng chữ “Nên” hay “Phải” để tự lường gạt mình:
 
“Bắt đầu từ bây giờ, tôi nên ăn kiêng mới được!”
 
“Tôi phải bỏ hút thuốc lá ngày mai!”
 
 
Có thể - Không thể
 
“Có thể” và “Không thể” thường được dùng để tránh va chạm:
 
“Tôi mong là tôi có thể làm được việc đó, nhưng tôi không thể làm được.”
 
- “Không thể”: Không có khả năng hay quyền lực để làm chuyện gì.
 
- “Có thể”: Biểu lộ một sự không nhất định; hay cố không muốn làm.
 
Hãy thay 2 chữ “Có thể” hay “Không thể” thành “Sẽ” hoặc “Sẽ không” xác định) để tỏ ý mình đã quyết định chứ không phải chuyện lờ mờ khó xử:
 
“Tôi sẽ gặp anh ngày mai.”
 
“Tôi nghĩ là tôi sẽ không đi đâu cả!”
 
Khi nói chuyện với người lạ, hay những người quen nhưng đã có sẵn suy nghĩ và cảm nhận khác với mình, thì khả năng diển đạt tư tưởng là điểm then chốt của kết quả cuộc nói chuyện.  Nói thế nào đề người nghe hiều ngay là mình muốn nói gì chứ không phải nói để “nổ,” để khoe khoang sự hiểu biết hay ngu dốt…  chỉ tổ bị thiên hạ chửi.
 
Tốt nhất, không nói gì cả nếu mình không có gì để nói.  Im lặng vẫn là vàng. 
 
Vài lời thô thiển múa rìu không bao giờ qua được mắt thợ.
 
 
Thân mến,
 
 
 
 
blank
 
 
 
  
 
Trần Văn Giang
Ngày 17 tháng 3 năm 2015

,

Ý kiến bạn đọc
20/03/201507:17:06
Khách
Câu Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Không biết Tố Hữu viết là chân lí hay là chân lý .Nếu là chân lí thì ông sai chính tả quá nặng . Tiếng việt i ...đếm được , như ca sĩ, nha sĩ vvv . y dùng cho lý luận ,suy luận .ví dụ đia lý , chân lý ,lý trí
19/03/201521:30:19
Khách
Cám ơn khách tên Hoàng đã nói lên giùm điều tôi muốn nói. Giới truyền thông VN ở hải ngoại nấy đa số là có làm ăn với việt cộng qua hình thức quảng cáo cơ sở làm ăn của bọn chúng, nên chữ nghĩa họ dùng rặt một giọng điệu của bọn ngu dốt viêt cộng. Ho đọc tin tức như là 1 con vẹt không có đầu óc suy nghĩ!
19/03/201519:12:15
Khách
Chỉ có vc mới dùng những "ngôn ngữ"thối tha đó.
lien he, quan he, dang ky, hien dai va phat thanh do co su ngon doc canh sat cuu hoa, toi nghe muon oi mua lien. Canh sat, lam gi co Canh Sat Cuu Hoa?
Bao chi va dai phat thanh co ve nhu xai tu cua Viet Cong de tuyen truyen cho nhung ai doc bao va nghe dai phat thanh, da so thanh phan lam bao toan la dan chan trau, giong nhu tui Viet Cong that hoc ma lam tuong vay.
Song mot dat nuoc va xa hoi van minh nhu My, lai dung tu cua bon khac mau.
Để gọi đích danh chúng: “bọn đồ tể Việt Cộng”:

Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu đồng bào
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay vấy máu anh em.
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay chiến tích hận thù
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay giết chóc hôi tanh.
19/03/201506:44:40
Khách
Bài viết nầy nên danh cho những người làm truyền thông tiếng Việt trên đất Mỹ nầy.Vì chúng dùng lối "chữ nghĩa" vc lại càng tối nghĩa,nghèo nàn về kiến-thức của bè lũ csvn.
Nhộn nhịp chúng bảo là sôi động
thời tiết cực đoan
chết lâm sàng
bảo vệ luận văn tốt nghiệp
bảo tuyết gió giựt.
đọc những câu trên thì muốn ói mữa ra,chỉ có vc mới dùng những "ngôn ngữ"thối tha đó.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.