Hôm nay,  

Có Phải Tôi?

06/05/201500:00:00(Xem: 7206)

Trước đây, có quyển «Người Trung quốc xấu xí» của Bá Dương được Nguyễn Hồi Thủ ở Paris dịch ra tiếng việt nam. Nhiều người việt Nam đọc qua, ai cũng ngạc nhiên sao người trung quốc lại có nhiều cái giống bà con người việt nam mình quá. Hay người việt nam mình giống người trung quốc. Ai giống ai? Điều đáng ngạc nhiên là cả «bà già trầu» đọc qua cũng la lên «Sao giống mình quá vậy! Ông này viết hay thiệt! Giống như đóng tuồng vậy!».

Chẳng lẽ người ta nói «Người việt nam và người trung quốc đồng văn, đồng chủng» lại đúng sao?

Nay đọc bài «Kẻ thù của người trung quốc» của Bá Dương, Cỏ May lại giựt mình vì quả thật người việt nam ta sao có nhiều cái giống người trung quốc của Bá Dương mô tả quá đi. Hay người trung quốc học ta đó !

Càng đọc, Cỏ May càng kinh ngạc. Và xin mạn phép chủ quan lược ghi vài nét giống nhau để bạn đọc thấy có đúng không? Điều ước mong thật lòng của Cỏ May là Ông Bá Dương chỉ mô tả đúng cho người trung quốc, đồng bào của ông ấy, chớ hoàn toàn không phải của người việt nam chúng ta.

Về văn hóa

Bá Dương so sánh văn hóa trung quốc với hai nền văn hóa cổ đại ai-cặp và hi-lạp để thấy sự khác bìệc là văn hóa của hai nước đó đã một thời huy hoàng rực rở ảnh hưởng qua phương tây nhưng lại sụp đổ, không để lại một sự nối tiếp nào ngoài những chứng tích có giá trị cho môn khảo cổ học. Người dân hai nước này ngày nay không liên quan gì với tìền nhơn của họ hết cả. Trái lại, văn hóa trung hoa không bị số phận đó. Nhưng ông lại than phiền:

«Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả nhân dân cũng bạo ngược.

Ở thế kỷ thứ XIX, có một chuyên viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: "Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa". Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn ».

Phải chăng từ khi Mao Trạch-đông về Bắc kinh thì văn hóa, lịch sử và con người thật sự bắt đầu đoạn tuyệt với cái quá khứ dài liên tục cả ngàn năm của Trung hoa ? Văn hóa trung hoa cổ thời mang giá trị nhân văn bao nhiêu thì cái văn hóa mác-xít do Mao Trạch-đông đem tới từ năm 1949 lại phi nhân, bạo ngược và dã man bấy nhiêu. Không phải đây là một hiện tượng gián đoạn lịch sử trung hoa ?

Ta thử nhìn lại các cuộc cách mạng ở Trung quốc, từ cướp chánh quyền của Mao Trạch-đông, phản phong, bước nhảy vọt, cách mạng văn hóa long trời lở đất để thấy trong lịch sử nhơn loại, có những biến cố nào ghê gớm như vậy do chính con người làm ra, gây tổn thất sanh mạng cả 80 triệu người? Nhưng cái tai họa đó thật sự nhằm thay đổi con người. Hủy diệt một lớp người thấy không cần thiết để thay thế vào đó một lớp người khác do họ đào tạo. Mà đào tạo một lớp người mới không gì khác hơn là hủy diệt nhơn tính, phẩm giá con người để thay thế bằng con người xã hội chủ nghĩa. Ở Việt nam, Hồ Chí Minh, đệ tử của Mao, học được và áp dụng «vì lợi ích một trăm năm, trồng người» bằng đấu tố, tắm máu!

Bá Dương đã phải ngán ngẩm không hiểu cái văn hóa truyền thống kiểu nào mà sanh ra hìên tượng này? Nó đã khiến cho người trung quốc của ông mang trong người tử lúc nào không biết nhìều mầm ác rất đáng sợ vô cùng.

Khi viết điều này, Bá Dương chưa biết cách làm ăn lượm bạc cắc ngày nay của người trung quốc của ông là làm thịt đồng bào của họ lúc còn sống để lấy nội tạng bán cho bệnh nhơn. Thầy thuốc, nhà thương hợp tác công khai. Nạn nhơn là những hội viên pháp luân công hoặc người dân nghèo, du khách trẻ đi đơn độc bị đảng viên cộng sản băt cóc. Trong số nạn nhơn gần đây, có không ít gái việt nam bị băng đảng cộng sản ở Việt nam dụ đưa đi qua Tàu lấy chống, làm công nhơn. Vừa mất tiền ở Vìệt nam, vừa mất mạng ở Tàu. Tội ác bán nội tạng ở Trung quốc, vừa được Quốc Hội mỹ đưa ra thảo luận.

Tập quán lâu đời

Ngoài những tâm tánh ác độc, theo Bá Dương, người trung quốc còn có những tập quán sanh hoạt gia đình và xã hội cho tới ngày nay vẫn chưa cải thiện được. Những tập quán này rất hiển nhiên, người ngoại quốc, ai cũng có thể nhận thấy dễ dàng: ăn ở dơ bẩn, hổn loạn, ồn ào. Vẫn theo Bá Dương, có nhiều nơi hể có người trung quốc tới ở thì những người khác phải dọn đi. Ông có một cô bạn trẻ tốt nghiệp chánh trị học, có chồng người pháp nên về Paris ở với chồng. Nhiều bạn bè trung quốc của cô, mỗi khi đi Paris, đều ghé qua ở nhờ nhà cô. Chỉ trong thời gian ngắn, các gia đình người pháp láng giềng đều dọn đi hết cả. Thế là người trung quốc lần lượt dọn tới.

Ông Bá Dương nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Ông hỏi:

"Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao ?".

Cô ta đáp:


"Làm sao nổi !".

Còn một nét đặc thù lịch sử thứ hai là ồn ào. Ông Bá Dương phải thừa nhận «Cái mồm ngưởi trung quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này, người quảng đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ, có một câu chuyện tiếu lâm như sau: có hai người quảng đông lặng lẻ nói chuyện với nhau. Người mỹ lại tưởng họ sắp đánh nhau, bèn điện thoại cảnh sát để kịp can thiệp. Khi cảnh sát mỹ tới, hỏi họ đang làm gì, họ đáp:

«Chúng tôi đang thì thầm với nhau» !

Người việt nam, khi nghe ai nói chuyện lớn tiếng, thường bảo «Như chệt về Tàu».

Ông Bá Dương giải thích hiện tượng người tàu nói lớn tiếng như đang gây lộn với nhau vì nội tâm của họ không yên ổn. Họ cứ tưởng lên cao giọng, nói lớn tìếng, là lý lẽ của mình mạnh, mình có lẽ phải, thuyết phục được người khác.

Ảnh hưởng Xuân Thu Chiến quốc

Không biết có phải vì ảnh hưởng lâu dài nội chiến mà người trung quốc mang đặc tành nổi bật là thích xâu xé nhau đến chết bỏ.

Bá Dương so sánh: «Một người nhựt đơn độc, trông chẳng khác nào một con lợn. Nhưng ba người nhựt hợp lại thì thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người nhựt làm cho họ trở thành vô địch».

Bởi vậy trong lảnh vực quân sự và thương mại, người trung quốc không thể nào qua mặt được người nhựt.

Ở cùng phố, ba người nhựt buôn bán, thay vì cạnh tranh nhau, họ tổ chức luân phiên với nhau: nay phiên tôi, mai phiên anh,…Với người trung quốc buôn bán gần nhau thì anh bán 3 đồng món hàng, tôi sẽ bán 2, 50 món hàng đó. Nếu anh bán 2, 50, tôi sẽ hạ giá còn 2 đồng, …

Bá Dương mới cho rằng mỗi người trung quốc là một con rồng, nói năng không ai bằng. Cứ như chỉ cần thổi một cái là mặt trời rớt xuống, dặm cẳng nhẹ là đất sụp ngay.

Ai cũng thấy chỗ nào có người trung quốc là có đấu đá. Người trung quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ thân thể họ được kết tinh bằng những tế bào chia rẻ. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người trung quốc không biết đoàn kết thì Ông Bá Dương chỉ xin thưa: "Anh có biết người trung quốc vì sao không đoàn kết không ? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không ? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người hoa mất đoàn kết đó !".

Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà họ còn dư sức viết nhiều quyển sách hô hào đoàn kết nữa. Họ lấy túi khôn của Việt nam để lập luận «Một cây làm chẳng nên non, ba cây dụm lại nên hòn núi cao».

Bất cứ một cộng đồng người hoa nào ở Mỹ, Âu châu, Úc châu, ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm đủ cách công kích nhau, hạ bệ nhau, thậm chí cả tiêu diệt lẫn nhau.

Ở Trung Quốc có câu ngạn ngữ: "Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống".

Phá sản

Bá Dương tới thăm một người bạn trung quốc. Ông này là một Giáo sư Đại học ở Mỹ. Gặp bạn củ, ông thao thao bất tuyệt những lý thuyết cứu nước Trung hoa thoát khỏi ách đô hộ cộng sản. Ông hô hào mọi người phải bìết dẹp cá tánh, tự ái của mình mà chỉ lấy mẫu số chung là giải thoát đất nước thoát khỏi chế độ cộng sản độc tài hiện nay.

Bá Dương nghe qua vui mừng, nhờ ông chở dùm tới nhà một người bạn chung, cũng là người tranh đấu chống cộng sản.

Ông bạn của Bá Dương tỏ vẻ khó chịu, bảo Bá Dương hảy đi một mình vì ông không muốn gặp người đó.

Nếu đem so sánh người trung quốc với người do thái thì sẽ thấy 2 đặc tính «cần cù và tự gíác» khác nhau. Đức cần cù ở người trung quốc ngày nay không còn nữa do nhiều cuộc cách mạng văn hớa, xã hội liên tiếp

hủy dìệt tận gốc, để lại đặc tính mới là chỉ biết vận dụng mánh khóe chụp ngay cái gì trước mắt bỏ túi. Đặc tính thứ hai, trong sanh hoạt cộng đồng, nếu có hội ý với nhau về một dự tính gì thì sau khi biểu quyết chấp thuận, mỗi ngưởi sẽ tự tiện hành động theo ý riêng của mình, không thắc mắc tới kết quả đã quyết nghị.

Nhưng người trung quốc vẫn thường tự hào là dân tộc Đại hán, có hơn 4 ngàn năm văn hiến!

Bá Dương lấy làm tiếc Trung Quốc, diện tích rộng lớn, văn hóa lâu đời. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người trung quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi.

Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì thù hận muôn đời.

Nhưng người trung quốc vẫn giử một tâm tánh rất tai hại. Mọi người đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, bảo vệ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện không hay xảy ra cho mình thì sẳn sàng "bỏ qua cho rồi !".

Mấy chữ "bỏ qua cho rồi" này đã giết hại không biết bao nhiêu người trung quốc và đã biến dân tộc trung quốc thành một dân tộc hèn mọn.

Cái não trạng sợ hãi này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Viết về truyền thống văn hóa trung quốc, Tư Mã Quang nhấn mạnh «bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ cho riêng mình là được».

Mong những điều không tốt trên đây là của rìêng người trung quốc. Có người việt nam giống người trung quốc chỉ là cái nhìn chủ quan vội mà thôi. Bị đô hộ ngàn năm mà Việt nam vẫn là Việt nam kia mà!

Nguyễn thị Cỏ May

Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.