Hôm nay,  

Niết Bàn

19/09/201500:00:00(Xem: 7810)
Niết bàn, phạn ngữ là Nirvàna, pàli ngữ là Nibbàna, là pháp ấn thứ ba trong Tam Pháp Ấn. Trong Đại Trí Độ Luận, quyển thứ 22, tổ Long Thọ viết: "Chư hành vô thường, Chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tịnh".

Kinh Tạp A Hàm của thượng tọa bộ Bắc phương, quyển thứ 10, bản chữ Hán cũng có đề cập đến Tam Pháp Ấn như trong Đại Trí Độ Luận. Theo Hán dịch thì Niết bàn được chuyển dịch là Diệt, Tịch diệt, Diệt độ, Tịch, Bất sanh, Vô vi, Giải thoát... Ngoài ra, Niết bàn còn được giải thích khác nhau theo lập trường của Nam Tông và Bắc Tông Phật Giáo.

Niết bàn được xem là mục đích cứu cánh của đạo Phật, chỉ trạng thái tâm thức đã gột sạch hết mọi vô minh phiền não, sự giải thóat khỏi các kiết sử tùy miên, sự đọan diệt hòan tòan mọi tham ái, sự dập tắt tham sân si. Trạng thái an tịnh tuyệt đối không còn bị bốn tướng sanh lão bệnh tử chi phối nữa.

Rất nhiều đoạn Kinh Đức Phật hay dùng phương pháp phủ định để hiển thị Niết bàn, như đoạn sau:

"Đồng nghĩa với Niết bàn giới, này các Tỷ kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc."

"Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này các Tỷ kheo, được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo tám ngành là con đương đưa đến bất tử." (Tương ưng V - một Tỷ kheo khác (2) - 7)

Có hai loại Niết bàn thường được biết đến, đó là Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn. Hữu dư Niết bàn là chỉ người đã đạt đến giải thoát khỏi vòng luân hồi, nhưng phần nhục thể vẫn còn tồn tại; Vô dư Niết bàn là cảnh giới vĩnh viễn khi xả ly phần nhục thể. Hai lọai Niết bàn này của Phật giáo có phần tương tự với hai loại giải thoát của Vedanta là hữu thân giải thoát và vô thân giải thoát.

Đức Phật với pháp thoại, giải thích về Niết bàn Hữu dư y và Vô dư y:

"Này các Tỷ kheo, thế nào là Niết bàn giới có dư y ? Ở đây này các Tỷ kheo, Tỷ kheo là Bậc Alahán, các lậu hoặc đã tận, phạm hạnh đã thành, đã giải thoát nhờ chánh trí. Trong vị ấy năm căn còn tồn tại, ngang qua năm căn ấy, vị ấy hưởng thọ khả ý, không khả ý, vì rằng tự ngã không có thương hại cảm giác lạc khổ. Với vị ấy, tham diệt, sân diệt, si diệt. Này các Tỷ kheo, đây gọi là Niết bàn có dư y."

"Này các Tỷ kheo, thế nào gọi là Niết bàn giới không có dư y? Ở đây, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo là bậc Alahán, các lậu hoặc đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh tri. Ở đây đối với vị ấy, mọi cảm thọ đều không có hoan hỉ ưa thích, sẽ được lắng dịu. Này các Tỷ kheo, Đây gọi là Niết bàn không có dư y." (Phật thuyết như vậy, Duk III, 7 - 443)

Quả Hữu dư và Vô dư còn được giải thích, từ sơ quả đến tam quả Bất hoàn được gọi là Hữu dư. Quả Alahán thứ tư được gọi là Vô dư.

Niết bàn Hữu dư y hay Vô dư y thường là y cứ vào hữu thân hay vô thân, nhưng cả hai lọai Niết bàn này đều khiến cho cái nguyên động lực đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt:

"Này các Tỷ kheo! Thân của đức Như lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của vị này tồn tại thời Chư Thiên và loài người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung thời Chư thiên và loài người không thể thấy được." (Trường Bộ I, Phạm Võng - 46)

Trạng thái tâm vắng lặng mà thường biết là đương thể của Niết bàn. Thế nên, Niến bàn chính là bản tâm thanh tịnh xưa nay. Nhờ cái đương thể của Niết bàn mà thế gian sinh diệt mới có chổ dựa tối hậu. Niết bàn hay sinh tử rốt cùng cũng chỉ là cái tâm của chúng ta, vì sinh tử (mê) và Niết bàn (giác) chỉ là biểu tượng hai mặt của tâm. Có khi người ta hiểu Niết bàn là một cảnh giới, nhưng là một cảnh giới vi diệu mà ở đây tất cả dục vọng vô minh của cá thể không còn tồn tại nữa, vì thế những người đệ tử Phật muốn biết Niết bàn là gì chỉ có thể kinh nghiệm một cách trực tiếp vào nguồn tâm của chính mình. Và khi nào ý niệm về TA và CỦA TA không còn năng lực hoạt động trong tâm, thì tự nhiên hành giả sẽ kinh nghiệm được cái "một" cái "Thuần nhất bất tạp" của muôn loài vạn vật. Có thể nói, Niết bàn là chân lý tuyệt đối nó vượt ngoài nhị nguyên và tương đối. Người đạt được Niết bàn là người phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì họ không còn nghĩ về mình, họ đã thoát khỏi mọi sai lầm về Ngã và lòng khát khao muốn trở thành. Trong Niết bàn không có thái độ thiên chấp và bưng bít. Niềm vui chân thật chỉ xuất hiện khi nào ta thoát khỏi mọi thành kiến ngã chấp và ý niệm có sẵn. Những người có lối sống phàm thường, đam mê trong dục lạc thật khó mà biết được sự an lạc nội tâm của các nhà tu hành đắc lực. Nhất là thời đại hôm nay, người ta đã xem nhẹ truyền thống tâm linh và đạo đức, lại xem trọng tri thức và vật chất. Và chính đó là mầm móng thác loạn trong đời sống nội tâm và đời sống xã hội loài người hôm nay. Giáo dục của thời đại không còn là giáo dục đạo đức nữa, mà giáo dục đã thiên về tri thức và hướng ngoại.


Cũng cần lưu ý, Niết bàn không thuộc về những tạo tác hữu vi. Tạo nhiều việc lành thì sinh về các thiên giới, còn mức trung bình thì sinh vào thân giới để hưởng thọ quả báo khổ vui. Cỏi người có những vận mệnh khác nhau vì trong những nhân lành có lẫn lộn nhân ác nhiều hay ít. Và tột cùng các thiện sự chỉ đạt được cao lắm sinh vào các cõi trời dục để hưởng phước báu hữu vi. Thế nên không thể dùng thiện sự trước tướng mà mong đạt đến cứu cánh Niết bàn (Vô vi). Muốn đến cõi sắc và vô sắc mà còn phải tu nhân thiền định, huống nữa là muốn thoát khỏi luân hồi.

Đức Phật thuyết giảng pháp thoại liên tưởng đến Niết bàn:

"Này các Tỷ kheo, có xứ này tại này, không có đất, không có nước, không có lửa,, không có gió, không có hư không vô biên … không có phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau; không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các Tỷ kheo ! Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh, không có an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên. Đây là sự đoạn tận khổ đau." (Phật tự thuyết, UD 80 - 381)

Đây là pháp thoại thứ hai liên tưởng đến Niết bàn:

"Này các Tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Này các Tỷ kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở nay không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi." (Phật tự thuyết, UD 80 - 382)

Và đây là pháp thoại thứ ba liên tưởng đến Niết bàn:

"Cái gì có nương tựa, cái ấy có giao động; cái gì không nương tựa, cái ấy không giao động. Không có giao động thời có khinh an, có khinh an thời không có thiên về, không có thiên về thời không có đến và đi, không có đến và đi thời không có diệt và sanh, không có diệt và sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có đời giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau." (Phật tự thuyết, UD 81 - 382)

Vì Niết bàn được diễn tả bằng những từ ngữ phủ định, nên nhiều người hiểu lầm đó là trạng thái tự hủy diệt. Nếu hủy diệt, chỉ là sự hủy diệt dục vọng và mọi ý tưởng sai lầm về Ngã. Niết bàn không thuộc về có, vì không có tướng mạo. Niết nàn không thuộc về không, vì hằng tri hằng giác. Đây là trạng thái thoát ly năm thủ uẩn, là cảnh giới "Phi nhị biên, ly tứ cú, tuyệt bách phi". Trạng thái tâm vắng lặng mà rỏ biết là đương thể của Niết bàn. Cái đương thể này đầy đủ bốn đặc tính Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì làm sao là hư vô đoạn diệt được ? Thế nhưng, nhiều học giả Phật tử đã coi Niết bàn là hư vô tuyệt diệt. Là đệ tử Phật mà hiểu Niết bàn là cảnh hư vô tuyệt diệt là đã rơi vào kiến chấp đoạn diệt, bèn thành tà kiến, và dĩ nhiên là tự mình đã phản bội lại với đức Phật rồi.

Điểm nổi bật của Phật Giáo nguyên thủy coi Niết bàn là "Tĩnh". Ngược lại, nét đặc sắc của Phật Giáo phát triển coi Niết bàn là "Động". Nhưng thực ra tĩnh và động chỉ là hai mặt của cái Một tuyệt đối mà thôi. Đến thời đại A Tỳ Đạt Ma Luận Thư (Thời đại bộ phái) đã quan niệm Niết bàn là một cảnh giới vĩnh tịch. Thắm đượm một màu sắc vô cùng tiêu cực. Phật Giáo phát triển đến thời hưng khởi đã quan niệm Niết bàn mang tính hoạt dụng tích cực hơn. Các vị Bồ tát vì mang đại nguyện độ sinh nên vĩnh viễn hoạt động mà lòng không nhiễm trước thế gian, cái tâm không nhiễm trước đó được mệnh danh là Bất trụ Niến bàn.

Tất cả mọi công hạnh độ sanh của chư Bồ tát cũng từ quan điểm "Chủ động" ở trên mà được an lập. Các Ngài nguyện vĩnh viễn nơi bể sinh tử mà vĩnh viễn nơi bờ Niết bàn, vì sanh tử tức là Niết bàn, một loại Niết bàn rất sinh động. Niết bàn này của Phật giáo phát triển, thực ra cũng chỉ là thừa kế Niết bàn của Phật Giáo nguyên thủy trên phương diện tích cực nhập thế độ sanh mà thôi.

Tất cả pháp hữu vi sinh diệt trong từng sát na. Quá khứ đã trôi qua, vị lai thì chưa đến, sự tồn tại chân chính chỉ có thể tìm thấy trong từng sát na hiện tại. Vì thế, Niết bàn chỉ có ở sát na hiện tại, ngay tại đây và bây giờ. Niết bàn cũng là chổ tiềm ẩn của thế giới hiện thực, song song tồn tại với thế gian vô thường, và vô thường chính là dụng lực của Niết bàn vô vi.

Có một thiền khách hỏi:

- Thế nào là Đại Niết bàn?

Sư đáp:

- Hãy nơi sanh tử mà nhận lấy.

(Nguồn: Thư Viện Hoa Sen -- http://thuvienhoasen.org/)

Ý kiến bạn đọc
20/09/201504:14:51
Khách
Niết Bàn là cái gì đi nữa, thì cũng không bao giờ là một trong tam pháp ấn. Sẽ là một sai lầm cơ bản và nghiêm trọng khi cho rằng Niết Bàn là một pháp ấn, dù người nói là ai đi nữa kể cả các đại lão hòa thượng thiền sư đức cao đạo trọng, danh tiếng lẫy lừng.
Xin hãy thận trọng mỗi khi đăng đàn thuyết pháp.
19/09/201513:00:16
Khách
toi uoc mong co ngay nao, kinh phat duoc dich tu chu an do, vi phat sinh ra tu an do, va noi tien an do, chu khong phai tieng trung hoa, thi tot nhat dung thang tieng an do de dich qua tieng viet nam, chu toi da nghien cuu 2 loai kinh trung hoa, va an, thi thay kinh trung hoa dich khong dung may, va de nghi khi dich qua tieng viet thi nen dung tu binh dan de nguoi dan de hieu, cho nen da den luc ngung kinh doanh chua, ma nen tap trung dich kinh tim hieu kinh de dem truyen ba lai cho dan chung, ban thu doc kinh phat bang tieng anh chua, du sao cung de hieu mot chut khi doc kinh viet nam.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vườn Lộc Uyển Balanai là một Trong Bốn Thánh Tích Quan Trọng Của Phật Giáo. Vườn Lộc Uyển cịn được gọi là Vườn Nai hay Vườn Lộc Giả. Ngài Huyền Trang (trích dẩn trong Tiền Sanh Truyện) giải thích nguồn gốc của Vườn Lộc Uyển. Ơng viết rằng Vườn Lộc Uyển là một khu rừng của vua Benares trong Tiền Sanh hiến cúng khu rừng nơi lồi nai đi lang thang mà khơng bị quấy rầy.
Một buổi sáng mùa Xuân tôi đến Thành Xá Vệ. Tuy là mặt trời mới vương lên nhưng Thành Xá Vệ đã có đông người đến hành hương. Từ cổng thành tôi thấy có nhiều nhốm Phật tử và sư sải từ phương xa đến chiêm bái. Có nhốm chục người, có nhốm cả trăm người khiến cho Xá Vệ Thành nhộn nhịp. Thành Xá Vệ là một địa điểm hành hương quan trộng của Phật Giáo vì vậy thành Xá Vệ luôn luôn nhộn nhịp bất kể ngày hay đêm.
Vài tháng trước khi Việt Báo thông báo sẽ tổ chức show Khánh Ly-Trầm Tử Thiêng tôi đã lo lắng là không biết người xem sẽ hiểu cái hay của nhạc Trầm tử Thiêng ở mức độ nào.
đã cùng nhau đóng thùng thực phẩm để phân phối cho cư dân có nhu cầu cần thực phẩm. Sau 2 giờ làm việc, hơn 45,600 lbs thực phẩm đã được đóng thùng và sẽ được phân phối phục vụ hơn 1,500 gia đình.
Ô. Trump có thể là ứng cử viên sáng giá cho Giải Nobel Hòa Bình Thế Giới. Theo tôi chẳng có ai thua hay thắng trong cuộc họp thượng đỉnh này cả. Tôi ca ngợi cả hai ông Trump và Putin…chỉ vì một nền hòa bình cho thế giới.
Có thể nói Luật Đặc Khu và cuộc trấn áp ngày 17/6 đã biến những người dân VN bình thường trở thành những nhà hoạt động. Và đó là khởi đầu một “cuộc chiến” mới
nhan đề “Không Đặc Khu Cho Ngoại Bang” để hỗ trợ các cuộc biểu tình bùng nổ để phản đối CSVN soạn dự luật thiết lập 3 đặc khu để cho tư bản quốc tế thuê đất 99 năm
Ni sư Thích Nữ Giới Hương, trụ trì Chùa Hương Sen, cho biết trong tương lai sẽ xây một thư viện cho chùa, và sẽ đặt tên là Thư Viện Mật Nghiêm để sẽ là nơi các nhà nghiên cứu tới tìm tài liệu về Phật học.
Với tâm nguyện muốn hình bóng Phật pháp tăng và ngôi Tam Bảo tòng lâm trang nghiêm thanh nhã được hiện diện tại vùng bán sa mạc Perris
nhìn lại toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt và văn hóa Việt bằng một cách trung thực, toàn diện, sống động và khích lệ thiết thực hầu làm căn bản cho Nền Giáo Dục Việt Nam thời hậu cộng sản
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.