Hôm nay,  

Nợ….

26/09/201500:01:00(Xem: 12162)
Nợ….

Đoàn H. Quốc

Nợ vốn đã đau đầu, nhưng nợ nhà nước lại càng phức tạp hơn do các con số và bị những nhà kinh tế đánh hỏa mù...


Nhưng có thể lấy thí dụ cho dễ hiểu: một nước đang phát triễn như sinh viên mới ra trường, trong khi quốc gia công nghiệp giống như người lớn tuổi đã có sự nghiệp. Tất nhiên thanh niên trẻ cần mượn tiền gia đình hay ngân hàng để mua xe tậu nhà lập gia đình tạo nên sự nghiệp, tương tợ như nước mới phát triển phải mượn nợ đầu tư vào đường xá, điện nước, phi trường, hải cảng, giáo dục, y tế v.v… Hạ tầng tốt tạo điều kiện cho kinh tế phát triển chẳng khác các cặp vợ chồng trẻ đặt nền móng chuẩn bị cho tương lai.


Nhưng rồi có người khi đồng tiền ra vào lại tiêu xài bậy bạ thay vì lo cho mai sau, cũng giống như các món nợ đầu tư lảng phí theo kiểu xây dựng tượng đài, phi trường, công trình hoành tráng nhưng kém hiệu quả kinh tế. Lại có kẻ mới đi làm có đồng lương nhưng không biết quản lý tiền bạc nên bị bạn xấu bòn rút, chẳng khác gì một nước mới phát triển nhưng tài nguyên công quỹ bị tham nhũng đục khoét. Theo một số nghiên cứu thì khi đầu tư hạ tầng chiếm trên 40% GDP là lúc một quốc gia đang mở mang đánh mất dần khả năng kiểm soát khiến đầu tư trở nên lảng phí.


Sinh viên mới ra đời tuy ít của cải nhưng lương bổng tăng nhanh so với người trưởng thành lương tăng chậm nhưng nhà cửa tài sản tích tụ đã nhiều. GDP của Trung Quốc trong vòng 20 năm tăng trưởng 10% thường niên trong khi của Hoa Kỳ chỉ tăng 2-4%, nhưng tài sản của nước Mỹ nhiều hơn Tàu đến 9 lần. Cho nên có người lý luận cho rằng ngay cả khi GDP của Tàu qua mặt Mỹ - tức là lương Trung Quốc vượt hơn lương của Hoa Kỳ nếu tính trên quốc gia chớ không bằng lợi tức đầu người – thì Mỹ vẫn giàu hơn Tàu.


Nợ có thể vay mượn từ gia đình hay bên ngoài, giống như nhà nước có thể vay mượn từ trong nước hay ngoại quốc. Trong nội địa chính quyền có hai khoảng thu nhập là thuế và nợ công. Nhà nước vay mượn trong nước bằng cách trực tiếp bán công trái cho dân chúng hoặc ngân hàng, các quỹ đầu tư và bảo hiểm tức là những nơi giữ tiền do dân chúng thác gởi. Sau đó chính quyền dùng tiền để xây cầu đường hay tài trợ cho các công trình địa phương và công ty nhà nước. Con cái bòn rút cha mẹ rồi đến khi túng thiếu năng nỉ để gia hạn hay tha nợ, huống hồ gì nhà nước là cha mẹ thì quịt nợ dân chúng còn dễ hơn. Một cách để trả nợ là tăng thuế; hay ấn hành nợ mới; hoặc bắt các ngân hàng xoá nợ; hay in bạc để trả nợ, bởi vì nhà nước có quyền in đồng tiền nội địa. Nhưng trên đời có vay có trả, dù chọn lựa cách nào thì cũng phải có bên thua lổ hoặc do thuế má lên cao, hay lạm phát tăng vì tiền mất giá, hoặc ngân hàng lổ lã nên không cho doanh nghiệp và tư nhân vay mượn. Nói cách khác phù phép cách gì đi chăng nửa dân chúng và khu vực tư nhân cũng lãnh hậu quả.


Nhân đây cũng nên nói về lạm phát: chủ nợ và người tiết kiệm lo tiền mất giá trong khi nhà nước cùng các con nợ lại trông vào lạm phát để cho nợ bốc hơi. Nói cách khác thì lạm phát chính là một thứ thuế vô hình để móc túi người dân.


Nợ nước ngoài mượn bằng đô-la trả bằng đô-la cho nên nhà nước không thể in thêm tiền nội địa để trả nợ. Đến kỳ hạn thì phải rút ngoại tệ dự trữ ra trả. Trong nhà còn đóng cửa dạy nhau, nhưng mượn tiền người ngoài nếu chậm trể thì bị kêu réo um sùm khó dấu. Khi dự trữ ngoại tệ xuống thấp khiến các doanh nghiệp cần buôn bán với nước ngoài khó đổi tiền đô-la thì họ phải mua ngoại tệ với giá chợ đen khiến tiền nội địa càng thêm mất giá. Tiền cũng có thể bị phá giá để cạnh tranh với các nước khác như trường hợp Việt Nam và Trung Quốc mới xảy ra gần đây. Các nhà đầu tư thấy tiền mất giá thì vội đổi sang đô-la để không bị thiệt thòi, rồi rút tiền về Mỹ hay các nơi an toàn khác như Âu-Nhật dẫn đến tình trạng tư bản tháo chạy gọi là capital flight.


Hai nền kinh tế lớn hàng nhì và ba trên thế giới là Trung Quốc và Nhật Bản đều mang nợ khoảng 200% GDP nhưng đa số là nợ trong nước, cộng thêm các khoảng dự trữ ngoại tệ khổng lồ nên nạn tư bản chảy ra nước ngoài không đe dọa thị trường tài chánh đến mức mất kiểm soát giá trị đồng bạc. Nga trước đây tích tụ ngoại tệ nhờ giá dầu tăng vọt nên có thể chống chọi 1-2 năm cho dù đồng rúp đến nay đã rơi giá thê thảm vì dầu hạ giá. Còn lại các nước đang mở mang như Brazil, Argentina, các nước vùng Trung và Đông Nam Á không có khoảng dự trữ lớn trong khi mua bán với Trung Quốc chậm lại nên đang phập phòng không biết tình trạng tư bản tháo chạy có sẽ xảy ra hay không.


Đối với cá nhân thì người trưởng thành thường không mượn nợ vì tài sản nhà cửa đã có, nhưng đối với các quốc gia công nghiệp hiện lại mang nhiều nợ hơn các nước đang mở mang. Một phần như tại Nhật dân số già nên nhà nưóc chi ra cho hưu bổng nhiều hơn thu vào từ thuế lợi tức và tiêu thụ; phần khác vì chính sách xã hội quá hậu hỉ như Châu Âu; hay vung tay tiêu xài vì … mượn nợ quá dễ như Hoa Kỳ. Các nước đang phát triển như Trung Quốc hay những quốc gia dầu hỏa vùng Trung Đông gởi tiền cho khối công nghiệp vay mượn, một phần vì họ cần giúp cho thị trường các quốc gia công nghiệp mua hàng hóa xuất cảng do đây là những khách hàng xộp, phần khác bởi tiền giữ trong nước sợ bốc hơi, giống như vợ chồng trẻ sợ tiền để trong nhà mang ra đánh bài nên đem gởi ông hàng xóm nhà giàu cho chắc ăn.


Nước mang nợ nhiều nhất thế giới là Hoa Kỳ thì phải xem là… ngoại hạng (exorbitant privilege). Mỹ mượn nợ bằng đô-la nên kẹt lắm in tiền đô-la để trả nên cho Hoa Kỳ vay mượn không thể mất vốn. Ngân Hàng Trung Ương đã in 4000 tỷ USD từ năm 2008 đến nay nhằm vực dậy nền kinh tế, theo lẽ thường lạm phát phải tăng và đô-la mất giá; nhưng ngược lại lạm phát tại Mỹ vẫn dưới 1% còn giá đô-la lại tăng nhanh tức trái hẳn với các quy luật kinh tế nhập môn. Đã có vô số bài viết tranh luận về sự kiện này kể cả trong các cuộc bầu cử Tổng Thống, nhưng thực tế vẫn là thế giới tiếp tục cho Hoa Kỳ mượn với tiền lời rẻ mạt 1%. Cho nên có nhiều kinh tế gia đòi Hoa  Kỳ không nên giảm mà phải tăng nợ, vay mượn nhiều hơn nửa trong khi lãi suất còn thấp nhằm đầu tư vào hạ tầng và thúc đẩy nền kinh tế khi phát triển còn chậm chạp.


Để hiểu lập luận này nên mường tượng ra hai cách trả nợ: hoặc bớt tiêu xài thắt lưng buộc bụng trả nợ theo kiểu Hy Lạp, nhưng rồi nghèo lại nghèo thêm; hay cứ mượn thêm nợ để đầu tư, đầu tư tăng giúp thu nhập tăng thì gánh nợ teo lại. Khuấy nước thành hồ hay mượn đầu heo nấu cháo cách nào cũng được cho nên nợ công là một vấn đề vô cùng phức tạp mà các kinh tế gia không bao giờ đồng ý với nhau.










.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
Việt Nam và Trung Quốc đã ký 14 Văn kiện hợp tác an ninh Chính trị, Kinh tế-Thương mại và Văn hóa-Báo chí trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Tổng Bí thư Tô Lâm từ ngày 18 đến 20/08/2024. Trong số này, Văn kiện kết nối và thiết lập 3 Tuyến đường sắt giữa hai nước được gọi là “anh em” đã giúp Trung Quốc liên thông ra Biển Đông và bành trướng thế lực kinh tế...
Tại Campuchia, kênh đào Phù Nam Techo, trị giá 1,7 tỷ USD sẽ kết nối Phnom Penh và Vịnh Thái Lan, tượng trưng cho niềm tự hào dân tộc, an ninh và kết nối thương mại quốc tế. Người ta có thể cảm thấy như thế qua lời tuyên bố của Thủ tướng Campuchia Hun Manet và của ông Hun Sen, trong cương vị cố vấn, người đã chuyển giao quyền lực từ cha sang con vào năm ngoái...
Danh từ được tác giả dùng trong bài này không phải là danh từ theo tự loại mà là một thuật ngữ của Việt Cộng. Thuật ngữ Việt Công hay là danh từ Việt Cộng là những thuật ngữ, những từ được dùng trong nước dưới chính quyền Cộng sản Việt Nam. Ở trong nước người ta không dùng từ “Việt Cộng” mặc dầu Việt Cộng chỉ có ý nghĩa là Cộng Sản Việt Nam chớ không có nghĩa gì khác. Phải nói rõ ràng và dài dòng như vậy để tránh hiểu lầm và hiểu sai. Những danh từ đề cập trong bài viết này đa số là những danh từ kinh tế, vì chủ đề của bài viết là kinh tế, phân tích những ván đề kinh tế, nhận định về kinh tế chớ không phải chính trị, mặc dầu kinh tế không thể tách rời khỏi chính trị, xuất phát từ chính trị và tác động trở lại đời sống của mỗi con người chúng ta.
“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”! Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ? Cũng không đến nỗi trăng/sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …
Một bài viết ngay sau khi được bầu vào chức Tổng Bí thư đảng CSVN cho thấy ông Tô Lâm đã hiện nguyên hình một người giáo điều, bảo thủ và hoài nghi trong “hợp tác quốc tế” với các nước. Trước hết ông cáo giác: “Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.” Lời tố cáo này không mới vì chỉ “nói cho có” và “không trưng ra được bằng chứng cụ thể nào”, giống hệt như những người tiền nhiệm...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.