Hôm nay,  

Tị Nạn Trần Gian

25/12/201500:00:00(Xem: 7529)

Tháng Mười Hai là tháng cả thế giới cùng ăn mừng ngày Lễ Giáng Sinh. Dù người ta có thay đổi cách viết, cách bầy tỏ, cách nói thế nào chăng nữa thì hàng năm, người ta cũng quay về để bắt gặp lại hình ảnh về một gia đình Nazareth với người chồng dắt con lừa và trên lưng nó có người vợ bụng mang dạ chửa, lang thang gõ cửa từng quán trọ tìm nơi cư trú. Hình ảnh về một máng cỏ, một hài nhi, vài con bò con lừa, về một gia đình nhỏ bé, trơ trụi không một chút tài sản nào trong tay ngoài cây gậy của người chồng và cái tay nải nhỏ của người vợ, ở nơi đồng không mông quạnh, vẫn được cả thế giới chăm chú nhìn vào.

Gia đình “Thánh Gia” nhỏ bé đó là tượng trưng tiêu biểu nhất cho người tị nạn từ thế kỷ này qua thế kỷ khác.

Hình ảnh đó dạy cho nhân loại đời sống “tay không”, đời sống tị nạn, từ khi chào đời của con Thiên Chúa.

Sinh ra ở trần gian là bắt đầu đời tị nạn, tị nạn mỗi ngày suốt một đời người. Nếu hiểu rõ mình là kẻ tị nạn trong chốn trần gian này, sẽ mở lòng bao dung đón người khác vào ở chung với mình được. Thánh Giuse đã gõ từng cánh cửa, cửa mở ra rồi lại đóng vào. Trần gian rộng rãi thế mà không có chỗ cho một hài nhi. Nơi tị nạn đầu tiên của gia đình Thánh Gia là cái máng lót cỏ trong hang của chiên, của lừa, của bò.

Chúng ta hãy nhìn vào hình ảnh đông như kiến vỡ tổ chạy tán loạn của người dân Syria để hiểu thế nào là tị nạn. Trong cái tổ kiến hoảng loạn đáng thương này chắc chắn có trà trộn vào đó những phần tử xấu, những phần tử giết người như một trò giải trí, như đóng phim.

Làn sóng Trung Đông đang tràn lan vào Âu Châu. Mới đầu con số còn ít ỏi.

Càng ngày càng tăng lên, khiến những quốc gia như Đức, Pháp phải nghĩ lại với lời hứa ban đầu.

Nhiều Thống Đốc Hoa Kỳ đã thẳng thắn tuyên bố không chấp nhận dân tị nạn Syria vào tiểu bang của mình. Họ không muốn phải đối đầu với những kẻ thù nguy hiểm trong bóng tối. Nước Mỹ nổi tiếng về lòng nhân đạo đã dao động, bối rối, trong việc mở tay ra đón những người này.

Vụ thứ Sáu 13 tháng 11 vừa qua ở Paris càng đẩy lùi lòng nhân đạo của các quốc gia, muốn lánh xa người tị nạn.

Con số 10,000 người Tổng Thống Obama hứa hẹn đang bị từ chối, hoặc hoãn lại.

"Khi tôi nghe các lãnh đạo chính trị đề nghị sẽ có một cuộc kiểm tra về tôn giáo đối với những người đang trốn chạy khỏi một đất nước đang bị chiến tranh tàn phá, khi mà một số trong những người đó (tức các lãnh đạo chính trị-- chú thích của tác giả bài này) bản thân họ sinh ra trong những gia đình đang được hưởng sự bảo vệ khi họ đã từng chạy trốn khỏi sự đàn áp, thì điều đó thật đáng xấu hổ”. Tổng thống Obama nói thêm: “Đó không phải là người Mỹ, đó không phải là chúng ta”. (VOA)

Liệu người dân Mỹ có cái nhìn và suy nghĩ như vị nguyên thủ của quốc gia họ không?

Nước Pháp bị khủng bố liên tiếp như thế mà Tổng Thống Pháp vẫn tuyên bố là người Pháp có nhiệm vụ phải giữ lời cam kết sẽ nhận 30,000 dân tị nạn trong vòng hai năm tới. Ông cho rằng những người tị nạn từ Trung Đông và bọn khủng bố không liên hệ gì với nhau cả.

Cả hai vị Tổng Thống đều có cái nhìn của một tấm lòng bao dung.

Nhưng nhìn hình ảnh phát tán trên mạng: những thanh niên Trung Đông với nét mặt hung hãn, vứt tung những két nước của hội Hồng Thập Tự mang đến xe hỏa để tặng người tị nạn. Ai xem cũng phải kinh hoàng, đặt những dấu hỏi: Những thanh niên này là ai? Họ có thật sự là dân di tản? Liệu những người này vào nước mình rồi có cầm súng bắn lại người mình không? Một người Mỹ cắt nghĩa: Vì Hồng Thập Tự có dấu chữ thập (ý chỉ cây thánh giá) có nghĩa thuộc Kitô Giáo, nên những thanh niên này theo Hồi Giáo, không muốn nhận những gì thuộc về dị giáo.


Nếu họ không nhận sự giúp đỡ của Hồng Thập Tự thì họ tới đây làm gì?

Nhưng khoan, hãy xem tiếp: Hình ảnh kế tiếp là mấy cụ già và mấy em bé năm, bẩy tuổi cũng trên chuyến tàu hỏa đó, len lén đi xuống, nhặt những vỉ nước mang lên tầu. Như vậy thì rõ ràng có những phần tử xấu, trong những người tị nạn khốn khổ này.

Nếu chúng ta vì một số rất nhỏ mà làm ngơ bao nhiêu kẻ hiền lương cần sự giúp đỡ thì có đúng không?

Nhận hay không nhận số người di cư ồ ạt từ các vùng Tây Á (West Asia) và Đông Nam (South eastern) bao giờ cũng là một vấn đề khó khăn cho Âu Châu.

Hơn hai mươi năm trước, vào ngày 08 tháng 8 năm 1991, một số tàu chở khoảng 15,000 người di cư Albania đã thành công trong việc tấp vào cảng Bari, Italy. Phản ứng của chính phủ Ý rất khắc nghiệt. Hầu hết các người Albania đã bị giam giữ tại một sân vận động thể thao, không có đầy đủ thức ăn, nước, phòng vệ sinh. Nhà chức trách Ý chỉ thả thực phẩm cung cấp cho các người di cư bị bắt bằng trực thăng. Trong vòng vài tuần hầu hết các người di cư bị trục xuất về lại Albania. Sự đối xử khắc nghiệt của họ đã bị chỉ trích bởi các tổ chức nhân quyền và Giáo hoàng, nhưng đã được chính phủ Ý chứng minh đó là một điều cần thiết để ngăn chặn những đợt di dân khác sẽ tiếp tục từ Albania. (Wikipedia)

Bây giờ nhìn lại sự việc này, chúng ta có thể thông cảm với thái độ của chính quyền Ý khi đó. Năm 1991 là thời gian chế độ cộng sản ở Đông Âu sắp sửa tan vỡ, dân chúng tại đó cảm thấy là thời cơ đã tới cho một cuộc di dân với cái cớ tị nạn cộng sản. Nhưng chính quyền Ý thấy ngay việc chấp nhận họ sẽ làm cho đất nước Ý bị tràn ngập, khi các biên giới các nước Đông Âu đã rệu rã. Quyết định cứng rắn đó có vẻ nhẫn tâm, nhưng ngăn chặn được một đợt di dân khổng lồ mà chính nước Ý không kham nổi. Cai trị đồng nghĩa với tiên liệu là vậy.

Khi Thánh Giuse gõ cửa những quán trọ, người chỉ nhận được sự từ chối vì các quán trọ đều có những người khác đã đến đó trước. Cuối cùng Thánh Gia được một người chủ quán thương hại hướng dẫn đến cái chuồng của bò bên cạnh một sườn đồi. Nơi đó Chúa Hài Đồng được sinh ra. Chúa đã ra đời trong hoàn cảnh là người tị nạn. Một người tị nạn nghèo khó đơn sơ nhất.

Có ai nghĩ gia đình nhỏ bé của Chúa bị đối xử như thế là khắc nghiệt không? Không viện trợ chăn mền giữa mùa đông, lò sưởi là hơi thở của mấy con bò mấy con lừa. Không thực phẩm cho sản phụ, Đức Mẹ vừa qua một cuộc hành trình dài, lại vừa sanh xong, chắc là đói lắm. Thánh Giuse vừa đói, vừa mệt, vừa ôm cái lo của một người chủ gia đình.

Không biết Chúa ở trong chuồng bò, lừa, đó bao lâu?

Nhưng trường hợp “tị nạn” của Thánh Gia cách đây hai ngàn năm dĩ nhiên không thể so sánh với từng khối người đông đảo phải chạy trốn khỏi cảnh kinh hoàng của chiến tranh lẫn khủng bố của thế giới ngày nay. Nhưng ý nghĩa muôn đời cho loài người từ những sự việc này là: những người đang yên hàn sẽ đối xử với kẻ cơ nhỡ và cơ hàn như thế nào? Nếu bây giờ có người đến gõ cửa nhà bạn xin cho được ở trọ, bạn có mở cửa đón vào không? Có cho ăn, cho mặc không?

Đừng quên chúng ta, tất cả đều là người tị nạn ở chốn trần gian này.

Trần Mộng Tú

Dec.1st.2015

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.