Hôm nay,  

Văn Hóa Đình Làng

12/01/201600:00:00(Xem: 7660)

Tổng quan
(Văn hóa Đình làng là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cộng đồng cùng với biểu hiện của dân tộc đã sản sinh ra hàng ngàn đời để thích ứng với hoàn cảnh cũng như những nhu cầu của đời sống tâm linh và đòi hỏi sinh tồn.

*Đình là không gian mở rộng, không phải là ngôi nhà bị vây kín bởi những bức tường và những khung cửa sổ luôn luôn bịt chặt, văn hóa Đình của mọi thành phần xã hội, mọi tín đồ tôn giáo như luồng gió tự do thổi vào ngôi Đình. Nhưng Đình không bị cuốn đi bởi bất cứ một tôn giáo nào. Nó mở mang trí óc và tâm hồn Lạc Việt.

*Văn hóa Đình là tất cả các hình thái thờ phụng tiền nhân của nghệ thuật, tình yêu đất nước và suy niệm về lịch sử, những thứ mà trong sự tồi tệ cũng như trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến cho con người trở nên ít bị nô dịch hơn.)

Nội hàm

Việc xây dựng Đình Làng để bảo tồn văn hóa Việt trên quê hương mới

Để giữ gin di sản văn hóa Việt trên quê hương mới cộng đồng người Việt cần xây dựng ngôi Đình. Không có ngôi đình thờ cúng tiền nhân cộng đồng sẽ dần tan dã băng hoại! Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc hơn bốn ngàn năm Việt Nam nhiều phen mất nước nhưng không mất làng. vì thế lấy lại được nước. Làng Việt được gắn kết với một nơi thờ phụng linh thiêng vừa gần gũi đó là Đình làng. Cây đa, giếng nước mái Đình là một trong những thành tố làm nên văn hóa Việt.

Đình còn là một dấu ấn vàng son của mỹ thuật truyền thống dân tộc. Từ đó đã phản ánh biết bao vấn đề thuộc lịch sử, văn hóa, những tập tục, mối ứng xử đa chiều đối với vũ trụ và thế giới nhân sinh. Từ đình mọi luật lệ được tỏa về các con dân của làng xã, mà hạt nhân tâm linh chính là các vị anh hùng dân tộc – ông vua tinh thần của quần chúng là Thành Hoàng của làng.

Đồng thời là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống, nơi các hoạt động văn hóa cộng đồng được tổ chức và cũng là nơi tạo nguồn cảm hứng cho người dân sáng tạo nên các giá trị văn hóa. Không gian văn hóa đình làng Bắc bộ xưa do cộng đồng làng xã tạo dựng nên, xuất phát từ nhu cầu, niềm tin và ước vọng của người Việt. Với ý nghĩa đó, đình làng là trung tâm văn hóa, là bảo tồn nếp sống về văn hóa làng của người Việt Nam, là kho báu hết sức phong phú đặc biệt là điêu khắc Việt Nam trong lịch sử. Điêu khắc cũng tồn tại ở chùa, đền, các kiến trúc tôn giáo khác, nhưng không ở đâu nó được biểu hiện hết mình như ở Đình. Điêu khắc ở đình làng không những là nguồn tài liệu để nghiên cứu lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, mà còn là nguồn tài liệu để nghiên cứu đời sống ngày thường cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam.

Về sinh hoạt, biểu tượng đặm nét nhất lễ hội thường được tổ chức vào ngày sinh hoặc ngày mất của thần được thờ. Lễ hội gắn với truyền thống lịch sử (sự tích thần đánh giặc, lập làng, dạy nghề), gắn với lễ nghi nông nghiệp (lễ rước nước). Tế thần là hoạt động diễn lễ của hội tế để biểu thị lòng biết ơn của dân làng đối với thần, mong thần tiếp tục phù hộ cho đân làng mạnh khỏe, được mùa. Lễ vật tế thần là cỗ tam sinh (trâu, bò, dê hoặc lợn) là những sản phẩm nông nghiệp, là lễ vật kỷ niệm. Ví dụ đình Lưu Kiếm – Thủy Nguyên – Hải Phòng, xưa Trần Hưng Đạo qua đó chuẩn bị trận Bạch Đằng, dân làng chỉ kịp dâng cỗ “quá lộ” có cơm và cá, sau này khi tế thần ở đình cũng có lễ vật “quá lộ”. Đình làng Hương Trầm có bánh chưng, bánh giày cúng Lang Liêu. Nhân dân thường hem kiệu Ngọc Lộ hoặc kiệu Bát Cống trong lễ rước thần. Đặc biệt thường có con ngựa gỗ đi theo kiệu thần. Con ngựa gắn liền với cuộc sống đời xưa trong chinh chiến, đi lại và đã đi vào hoạt động tâm linh.

Hội đình mang lại niềm vui cho mọi người, mang tiết lễ. Trong hội diễn lại nhiều trò như giết giải cứu công chúa, hoặc gần với sự tích, gần với nông nghiệp (Vua Hùng đi săn), các tiết mục văn nghệ, trò chơi dân gian: đu quay, đánh vật…Đình làng là một kiến trúc to lớn nhất làng, nơi dung hội giữa đạo và đời, để con người tiếp cận với đấng thiêng liêng, song không bị đánh mất mình như ở một số tôn giáo và tín ngưỡng khác. Nó không phải là kiến trúc của Nho, Phật, lão, hay bất kể một tôn giáo nào đã từng tồn tại trên đất Việt, nó chỉ là nó, một sản phẩm độc đáo, không có bất cứ đâu.

Hình ảnh cái Đình đã in sâu trong tâm khảm người nông dân Việt, luôn luôn được nhắc nhở đến. Các nhà văn hóa Pháp trước đây đã sớm nhận thấy, như P.Giran viết: “Cái Đình là nơi thờ thần bảo hộ mỗi làng, chính là trung tâm đời sống công cộng của đoàn thể; chính ở đấy có những hội đồng kỳ mục, chính ở tại đấy họ giải quyết các vấn đề hành chính và tư pháp nội bộ; chính ở tại đấy có những cuộc tế lễ, tóm lại tất cả hành vi sinh hoạt xã hội Việt Nam đều diễn ra ở đây.

“Thần bảo hộ hay Thành hoàng đại biểu linh động tổng số những kỷ niệm chung, những nguyện vọng chung. Ngài hiện thân cho tục lệ, luân lý và đồng thời sự thưởng phạt trừng giới; chính Ngài thưởng phạt khi nào dân làng có người phạm lệ hay tôn trong lệ làng. Sau cùng Ngài còn là hiện thân đại diện cho cái quyền tối cao bắt nguồn và lấy hiệu lực ở chính xã hội nhân quần. Hơn nữa Ngài còn là môi giới của tất cả phần tử của đoàn thể, Ngài kết thành khối, như là một thứ nhân cách tinh thần mà tất cả thuộc tính cốt yếu đều có thấy ở mỗi cá nhân” (P.Giran, Magie et religions Annamites, 1918 trang 334-335). Và J.Y.Claeys cũng viết: “Chắc hẳn qua cái Đình người ta có thể nghiên cứu chắc chắn hơn cả về những tập tục nhiều khi rất phức tạp, thường là cảm động; luôn luôn mới lạ, biểu lộ đặc trưng đời sống tinh thần của xã thôn Việt Nam”.

(J.Y.Claeys, Introduction à létude lAnnam et du Champa, Hanoi 1934)

Nhìn chung, văn hoá đình Việt Nam có tính hoàn toàn độc lập của một cộng đồng xã hội biết tổng hợp dung hòa mọi nền văn hóa khác thành một nét văn hóa riêng cho dân tộc mình, trong ấy, yếu tố chủ yếu vẫn là thờ cúng những người có công với xã hội, người anh hùng dựng lập nước và bảo vệ đất nước.

Ở miến Bắc thời Cải Cách Ruộng Đất, ĐC SVN dưới chỉ đạo của cố vấn Trung cộng đình làng gần như bị xóa sổ! Chúng đập phá đình chùa, miếu mạo và các văn chỉ, được thực hiện trong một kế hoạch quy mô có tính toán trên cả nước, gồm cả mở những chiến dịch đào mồ mả tổ tiên trong đó có nhiều vị anh hùng dân tộc.

Tới thời kỳ “mở cửa”,(1) trong bài ký sự “Tiếng kêu cứu một vùng văn hóa”, Ông Võ Văn Trực, một đảng viên kỳ cựu, đã mô tả nỗi kinh hãi, đau xé ruột gan khi thấy những di tích văn hóa như đình chùa miếu mạo, các nhà thờ họ ở khắp quê ông bị đập phá, cùng với những chiến dịch đào bới mồ mả tổ tiên, do đám thanh niên mới lớn lên trong thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất, vào thời kỳ chúng sửa soạn bước vào thế giới thù nghịch, ngay chính đối với ông cha mình! Về việc phá hoại các đình chùa, một chuyên gia Ba Lan đã phát biểu: “Hiếm có một đất nước như Việt Nam, làng nào cũng có đình chùa, miếu mạo, là một mặt biểu hiện của nền văn hiến dân tộc. Lạ thay, Nền văn hiến ấy đang bị hủy hoại[1].” Cũng là Cộng Sản, nhưng người Cộng Sản Ba Lan không u tối cuồng tín như Hồ Chí Minh và đám lãnh đạo Đảng Cộng Sản VN. Sự đập phá ấy diễn ra từ trong lòng thủ đô Hà Nội, nơi Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo Đảng đang sống. Nó lan ra toàn quốc, ở Nghệ An, thời kỳ “cởi trói” cho văn nghệ sĩ năm 1987, một cán bộ văn hóa của tỉnh nói mỉa mai rằng: “Về cơ bản, tỉnh nhà đã phá xong những di tích lịch sử[2]”. Đó là lời nói của một cán bộ Cộng Sản làm công tác văn hóa.

Trước năm 1945 ở Miền Bắc, làng nào cũng có đình chùa, miếu mạo. Sau 1945, dù trải qua chiến tranh, hàng vạn ngôi chùa, Đình Làng với di sản vô giá, bị đập phá tan tành, nhiều pho tượng hay đồ tế lễ, văn tự trong Đình Làng được lưu truyền từ thời nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê và Nguyễn vẫn còn nguyên vẹn. Trong thời gian Cải Cách Ruộng Đất, đình chùa, miếu mạo và các cổ vật ấy bị phá sạch vì đó là tàn dư của phong kiến.

Sau khi Liên Xô và khối các nước cộng sản Đông Âu sụp đổ nhà cầm quyền cho phục hồi nhưng rất nham nhở…Mặc dù họ nhận được nhiếu khoản viện trợ quốc tế như (năm 1993) đến nay, các Chính phủ và tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã tài trợ cho Trung tâm bảo tồn Di tích cố đô Huế gần 8 triệu USD để trùng tu hệ thống Di tích cố đô Huế.

Gần đây, Quỹ hỗ trợ quốc tế của UNESCO tài trợ chương trình "Nâng cao năng lực quản lý khu di sản Huế" giai đoạn 2014-2015 với tổng số tiền 29.930 USD; Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (Quỹ Đại sứ về Bảo tồn văn hóa Hoa Kỳ-AFCP), thông qua Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh tài trợ 2 dự án "Bảo tồn phục chế các án thờ ở Triệu Tổ Miếu-Đại Nội, Huế" giai đoạn 2013-2014; và dự án "Bảo tồn, tu bổ di tích Triệu Tổ Miếu (phần Tiền điện) tại Khu Di sản thế giới Hoàng thành Huế với tổng số tiền gần 730.000 USD.

Những khoản tiền viện trợ khổng lồ này một phần không nhỏ vào túi cán bộ.

Trở lại chuyện Đình Làng.

Ai cũng biết Đình Làng là nơi cất giữ gần như toàn bộ gia sản văn hóa của Tổ Tiên, đồng thời là nguồn sử liệu vô giá.

Do đó, Đình Làng đã được các học giả, sử gia, nhà nghiên cứu xã hội nhìn nhận tính chất đặc biệt đa dụng cả về tôn giáo lẫn xã hội, luật pháp, tư pháp, lập pháp, du hí, kinh tế, quan hôn, tang lễ v.v… Chỉ Việt Nam mới có.

Sau sự biến cố 1975, thì hàng triệu người phải từ bỏ quê hương, với mái chùa, sân đình, người thân, xóm làng thân thương, để tìm đến một phương trời mới, có được sự sống tự do, dù nơi đó không phải là nơi chôn rau cắt rốn của mình. Trong đó, có quí Thầy, quí Cô cũng như quí vị chức sắc tín hữu các tôn giáo, quí nhân sĩ trí thức các giới.v.v…Đă xây dựng đươc hàng trăm ngôi chùa ở hải ngoại, nhưng chưa ai tính chuyện xây dựng một ngôi Đình dù đã trải qua thời gian 50 năm.

Ở Việt Nam đã có chùa là phải có đinh { Đình-Chùa}

Từ xưa đến nay, người dân Việt Nam vẫn thường gọi chung đình chùa, nhưng trên thực tế, đình và chùa không cùng một ý thức văn hóa. Chùa là nơi chỉ thờ Phật và các vị Bồ Tát, ít nhiều có ảnh hưởng văn hóa Phật giáo đến từ Ấn Độ, Trung Hoa. Còn đình là của cộng đồng làng xã Việt Nam. Đình có thể thờ tất các vị anh hùng dân tộc, còn nhà thờ và chùa chỉ thờ Chúa và Phật, nhà thờ cũng như chùa khép cửa với dân ngoại đạo, còn Đình mở cửa cho tất cả tôn giáo, Đinh mở cửa cho mọi thành phần dân tộc. Đình là biểu hiện sinh hoạt của người Việt Nam, nơi “cân bằng” phép tắc của cuộc sống cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân làng, nhất là về tín ngưỡng, nơi để thờ thần Thành Hoàng làng, người có công với dân, cứu nước, giữ nước hoặc giúp dân nghề nghiệp sinh sống.

Nhìn quanh đình làng, ta sẽ thấy lòng tri ân, trọng nghĩa, trọng tài, ”uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam. Tuy đình là của dân làng, nhưng thần không hẳn là người của làng. Hơn nữa, người Việt Nam thừa hưởng nhiều tín ngưỡng cổ sơ, nguyên thủy, nên thờ và tôn kính rất nhiều vị thần như: thần núi, thần biển, thần nước (thần Tản Viên)… ở Phù Ninh (Phú Thọ) thờ thần Đá Trắng, vùng đồng bằng thờ thần cá, thần rắn… Tất cả những tín ngưỡng ấy, các thế hệ dân Việt Nam tiếp nối nhau tạo thành một nền vǎn hoá đình, một nền vǎn hóa hỗn hợp, đa dạng, có mặt nhiều thành phần tôn giáo khiến cho đình trở thành một tập thể siêu thần, thành một sức mạnh vô hình, tạo một niềm tin, một niềm hy vọng, một sức mạnh vô hình của làng xã cộng đồng Việt Nam.

Trong cái đình ấy, tất cả sinh hoạt tinh thần và vật chất công cộng đều tập trung chung quanh cái “nhà chung” gọi là Đình làng, dù phe phái nào, dù là kình chống nhau thì những ngày lễ hội họ cũng đến lễ vị thần bảo hộ làng, như nhà văn hóa Pháp P.Giran đã viết: “Hơn nữa Ngài còn là môi giới của tất cả phần tử của đoàn thể, Ngài kết thành khối, như là một thứ nhân cách tinh thần mà tất cả thuộc tính cốt yếu đều có thấy ở mỗi cá nhân.”

Trong bối cảnh hiện nay. Đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại phương hướng giữ gìn văn hóa không gì bằng ngôi đình. Nó là chất keo gắn bó cộng đồng là nơi thờ phụng Quốc Tổ và các vị anh hùng dân tộc. Nơi tổ chức các ngày lễ hội…( không phải thuê chỗ) Nơi sinh hoạt văn hóa đa chiều: Tổ chức hội thảo, trình diễn văn nghệ, ra mắt sách vv…

Nếu mọi người dân cùng chung tay góp sức tham gia trực tiếp vào công tác xây dựng ngôi đình, đóng góp mỗi người một viên gạch, thì di sản lịch sử vân hóa mới thực sự sống trong lòng cộng đồng người Việt trên quê hương mới trong sự biến đổi của nó qua lịch sử, đặc biệt là sự biến đổi trong thời kỳ văn hóa và hội nhập trong Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. khi nền kinh tế toàn cầu diễn ra, ở mỗi đất nước, tuy mức sống khác nhau, nhưng hình ảnh thế giới mọi nơi đều đang biến đổi theo một xu hướng chung. Và điều làm nên sự khác biệt đó là những di sản văn hóa mà ẩn chứa trong đó là tinh thần dân tộc, bản lĩnh dân tộc. Và các thế hệ trẻ sẽ am hiểu và yêu mến di sản mà cha ông đã để lại, qua đó có ý thức chung tay giữ gìn và phát huy những giá trị di sản này nhiều hơn nữa. Di sản lúc đó mới thực sự song hành cùng đời sống của cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Ý nguyện của tác giá quá lớn chăng?

Không. Đã có hàng trăm ngôi chùa được xây dựng bởi lòng haỏ tâm của Phật tử bằng tài thao lược của các sư ông, có vị có hai chùa, mỗi chùa có giá vài triệu Mỹ Kim. Vậy hàng trăm ngàn người hào tâm đó lẽ nào làm ngơ trước cảnh Tổ tiên và các vị anh hung dân tộc, như Bà Trưng, bà Triệu…của họ không có nơi hương khói!!!

“uống nước nhớ nguồn” Các vị uống nước nguồn nào?

Quốc Tổ Hùng Vương, Đức Phật, Chúa Je Su?

Sự thật ở nhiều tiểu bang Hoa Kỳ có người Việt sinh sống đông đúc, tôi cũng chỉ thấy họ xây chùa để thờ Phật, xây nhà thờ để thờ Chúa. Cả hai nơi này đều không có chỗ trú cho Quốc Tổ Hùng Vương và các vị anh hùng dân tộc của họ! Thành ra các Ngài vẫn trong cảnh không nơi hương khói! Khi hậu duệ của các Ngài nhiều người sống trong những biệt thự sang trọng và nhà nào cũng có bàn thờ Phật, thờ Chúa.. Ở đây, Quốc Tổ bị loại ra một cách tự nhiên, phải chăng vì Ngài không thiêng?

Bi kịch văn hóa là tiếng khóc của con người khi đối mặt với sự thật!

Bi kịch Quốc Tổ Hùng Vương và các vị anh hùng dân tộc không nơi phụng thờ hương khói hầu nhu ở các tiểu bang có người việt sinh sống đông đúc… Ngay ở San Jose, nhiều vị anh hùng dân tộc cùng với đồ tế lễ bị nhét trong kho chứa đồ, Đức Trần Hưng Đạo Tạm trú trong Gara Ôtô – nhà Phật tử Nguyễn Hữu Lục, từ khi ông Lục qua đời Ngài không con nơi hương khói nữa! Tượng Đức Bình Định Vương Lê Lợi.cũng trong cảnh màn trời gió bụi!

Tôi xin lỗi vì đã như thế này trước quý vị và các bạn, tôi cũng muốn nói rằng:

Hầu hết người dân Mỹ gốc Việt đều không hình dung rằng có ngày họ sẽ không còn thấy những ngày kỷ niệm các vị anh hùng dân tộc nữa! Bởi mối lo của các vị hoạt động cộng đồng và các chính trị gia, đảng phái là những vấn đề lý tưởng cao xa có Sức hút trước mắt cùng với những ồn ào chống cộng …Dĩ nhiên là quan trọng và phải đạo, nhưng bảo tồn văn hóa cô kết cộng đồng về một mối cũng không kém phần quan trọng.

Thử hỏi vận mệnh văn hóa đạt vào tay ai? Nếu không đặt lợi ích lịch sử văn hóa lên trên hết, thì trước sau các danh xưng ấy cũng sẽ bị mờ nhạt dần và rồi nó sẽ mất đi, khi đã mất đi rồi thì đảng phái và các hội đoàn đến cả chùa chiền sẽ khó mà có thể còn ở chỗ đấy!

Không bao lâu nữa đâu, tất cả sẽ biến đi! Có đáng sợ không?

Như là nói đến nỗi sợ hay không, nỗi sợ hay không sợ, thì bây giờ chúng ta phải đặt vấn đề “bản chất” nó như vậy, và các vị phải đối mặt với sự thật…

Các quý vị nghĩ sao?

Theo tôi nghĩ, đã đến lúc cần có một lộ trình rõ ràng cho việc xây dựng một ngôi Đình Làng San Jose, để gìn giữ văn hóa Đình làng ở đây không chỉ mang giá trị tâm linh, tín ngưỡng mà còn mang giá trị văn hóa cao. Thể hiện bản sắc riêng của đất Việt. Một trong những việc cần làm để bảo tồn truyền thống văn hóa Việt đó chính Đình là cái sẽ còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả bài học lịch sử.

Sau chót, nhân dịp đầu năm 2016, cầu Quốc Tổ độ cho quý vị bình tâm.

Trân trọng

TN

Ý kiến bạn đọc
12/01/201611:07:58
Khách
Toi tran quy VAN HOA DAN TOC. Toi tran quy anh TRAN NHU. Nhung anh Nhu a. Viec nay ma tien hanh thi bon tho lay NGOAI TOC se chang de cho chung ta yen dau. Vi chung luon NO DICH bon ngoai lai. Van hoa ngoai lai, luc nao cung muon tieu diet Van Hoa Dan Toc minh de phat trien cai thu Van Hoa Ngoai Lai ca. Ma bon TAY SAI - PHAN TOC nay tai Hai Ngoai qua dong dao va tan doc. Bon chung se chang de cho chung ta yen dau.
Anh thu nghi xem da 40 nam roi, ma chung ta co the tim thay cai HON cua Van Hoa Dan Toc trong cac sinh hoat cong dong hay khong? Trong nuoc thi bon QUY DO, ngoai nuoc thi bon NGOAI LAI khong che het.
Nay kinh
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.