Hôm nay,  

Tự Do Thật

14/04/201600:00:00(Xem: 24754)

Biến cố 30 Tháng 4 Năm 1975 của đất nước chúng ta khiến hàng ngàn Người Việt đã lần lượt ra đi tìm một nơi có sự tự do thật để sống. Vì tương lai của gia đình mọi người đã không ngần ngại hi-sinh tất cả để ra đi và họ đã phải trả một giá quá đắc từ mất nhà, mất tài sản, mất sinh mạng và gia đình bị tản lạc khắp nơi.

Cũng trong những năm loạn lạc đó, vào Ngày 1 Tháng 5 Năm 1975 nhà tôi, Mục sư Cao Hữu Trí cùng với đoàn người vượt biên đã vượt ngàn trùng ra đi tìm tự do. Đến cuối năm 1978 tôi mới có được may mắn ra đi như mọi người.

Hoa-Kỳ này được nhiều người ví sánh như là một xứ đượm sữa và mật. Một đất nước vật chất giàu có, thức ăn dư dật và nhiều người lại còn sợ lên cân vì thức ăn có nhiều chất bổ béo quá. Một nơi mà nhiều người đã gọi đây là thiên đàng trên đất. Khi người Việt sống trên một đất nước có nhiều sự tự do quá người ta đã quên cái giá đắc đỏ mà họ đã phải trả trên con đường vượt biên sống chết mới có được.

Ngày trước, có một người tên là Ni-cô-đem ông là một giáo sư, ông là một trong những nhà lãnh đạo tôn-giáo lúc bấy giờ. Ông đã từng nghe về những lời giảng dạy và chứng kiến các phép lạ của Chúa Giê Xu đã làm. Trong một đêm tối không có ai nhìn thấy ông đã lén tìm cách đến gặp Chúa. Ông có nhiều câu hỏi về lẽ thật của Chúa dạy và muốn tìm hiểu thêm về các sự mầu nhiệm ấy.

Ông Ni-cô-đem dù là một người có địa vị và học thức trong xã hội nhưng từ trong sâu thẳm của tâm hồn ông biết ông có những sự trống vắng mà sự khôn ngoan và sự giàu sang của ông không thể nào làm thỏa mãn cho ông được. Thưa quý vị Chúa đã dạy rằng, hỡi những ai khát hãy đến uống nước của Chúa. Khi uống nước của Chúa chúng ta sẽ không bao giờ khát nữa. Thưa quý vị, nước ấy là Nước Hằng Sống. Ông Ni-cô-đem đã tìm được sự khát khao cho cuộc đời và những thắc mắc của ông đã được Chúa giải đáp hết khi ông gặp được Chúa. Ông đã tìm được ánh sáng cho lối đi của cuộc đời của ông. Và sự vui mừng tràn ngập lòng của ông như mùa xuân đã bắt đầu trổ hoa trở lại.

Biết Chúa rất đơn giản thưa quý vị, chúng ta chỉ cần tin vào Chúa Giê Xu là Con của Chúa Trời, Đấng chủ-tể muôn loài vạn vật. Chúa đã đến trần gian này chết thay cho chúng ta. Mọi người trên trần gian này đều phạm tội. Cái giá phải trả cho tội lỗi là sự chết. Nhưng nhờ ơn của Chúa Ngài sẳn sàng cứu chúng ta khi chúng ta bằng lòng mở lòng ra mời Chúa vào.

Mọi thắc mắc, bất an của chúng ta sẽ được thay vào bằng tình yêu, hi-vọng và bình an muôn đời. Chúng ta sẽ tìm được sự tự do thật dù cho chúng ta đang ở trong hoàn cảnh nào. Chúa yêu thương chúng ta và Ngài muốn ban sự tự do thật cho bạn và tôi. Chúa là Vua trên muôn vua, Chúa trên các chúa. Ngài là Đấng cai quản thế gian này. Ngài biết hết tất cả mọi nhu cầu của chúng ta quý vị ơi. Hãy giao mọi điều lo lắng mình cho Ngài vì Ngài hay chăm sóc chúng ta.

Chúng tôi xin Kính Mời Quý Đồng Hương đến dự Buổi Trà Đàm Tạ Ơn Chúa nhân kỷ-niệm Ngày 30 Tháng 4 vào Tối Thứ Ba Ngày 19 Tháng 4 Năm 2016 lúc 6:29pm tại Điểm Hẹn KC tại Kevins Auto Body 9265 Bishop, Westminster CA 92683 (Phía sau Phước Lộc Thọ góc Đường Moran & Bishop) Chúng tôi sinh hoạt vào mỗi Sáng Chúa Nhật lúc 9:29am và Tối Thứ Ba lúc 6:29pm. Tôi là Mục sư Cao Mỹ Phượng (714) 603-4481 và nhà tôi Mục sư Cao Hữu Trí (714) 657- 9726. Trân Trọng Kính Mời.

Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.