Hôm nay,  

Dân Chủ: Thay Dân

14/05/201600:00:00(Xem: 6470)
Liên-xô và khối cộng sản Đông Âu sụp đổ. Lịch sử kết thúc một giai đoạn, mở ra thời đại Dân chủ tự do sẽ vĩnh viễn ngự trị thế giới loài người. Đó là lý thuyết của Giáo sư Francis Fukuyama ở Huê kỳ (La fin de lhistoire, Poche, Paris). Theo ông, lịch sử loài người trong giai đọan qua là cuộc tranh đấu khốc liệt, dai dẳng, giữa những ý hệ, nay chấm dứt. Lịch sử chấm dứt.

Vừa rồi, ông cho phổ biến một bài báo trên Wall Street Journal (Courrier Internatinal, 2015, đăng lại bản tiếng pháp) để kiểm điểm lại quan điểm 26 năm trước của ông, đối chiếu với tình hình thực tế gần đây.

Tiến sĩ Alexandre Del Valle, nhà nghiên cứu về địa chánh trị ở Viện Choiseul, giảng dạy tại Đại Học La Rochelle, Pháp, trong quyển sách “Le Complexe occidental” của ông, cho rằng khối cộng sản liên-xô sụp đổ, giải thoát cho một không gian khỏi ách đô hộ độc tài và đánh dấu thế giới lưỡng cực kết thúc để chỉ còn lại thế giới đơn cực, đứng đầu là cường quốc Huê kỳ, chấm dứt tình trạng xung đột giữa hai khối. Ông đồng ý với ông Fukuyama ở điểm này và chỉ tới đây.

“Khối liên-xô sụp đổ mở ra một kỷ nguyên dân chủ toàn cầu,” theo ông Alexandre Del Valle, lại là vấn đề cần phải được suy nghĩ lại. Còn theo học giả Samuel Huntington, khi đề cặp tới “đợt sóng dân chủ thứ ba,” thì hiện tượng xuất hiện dân chủ từ sau thề chiến có thể ghi nhận là từ sau khi chế độ độc tài ở Espagne và Portugal sụp đổ trong những năm 70 của thế kỷ trước.

26 năm sau, ông Francis Fukuyama, trong bài viết trên, vẫn xác định lại niềm tin Dân chủ rồi đây cũng sẽ thắng vì mô hình xã hội khi lịch sử chấm dứt chắc chắn phải dẩn tới dân chủ tự do.

Chúng ta sẽ tìm hiểu dựa vào những yếu tố nào mà sự quả quyết của ông vẫn không thay đổi, mà còn đưọc củng cố thêm.

Dân chủ suy yếu

Phong trào Đoàn kết ở Ba-lan thành công chấm dứt chế độ độc tài do Staline dựng lên, thanh niên, sinh viên biểu tình ở Thiên An môn đòi dân chủ, bức tường bá-linh sụp đổ, kết thúc hơn 70 năm cầm quyền cộng sản.

Nhắc lại năm 1974, thế giới chỉ có 35 nưóc dân chủ vì có bầu cử tương đối tự do. Tới năm 2013, có gần 120 nước dân chủ (30% - 60%, theo Giáo sư Larry Diamond, Stanford). Năm 1989 khởi đầu một xu hướng dân chủ nở rộ và Giáo sư Samuel Huntington gọi đó là “đợt sóng dân chủ thứ ba.” Nó bắt đầu ở Âu châu rồi hơn mươi năm sau, lan qua Nam Mỹ, Phi châu và Á châu. Phải chăng vì vậy mà ông Francis Fukuyama nhận định khi xã hội tiến bộ, tức khi kinh tế và chánh trị cải thiện, thì tiến trình ấy sẽ dẩn tới chánh trị dân chủ tự do và kinh tề thị trường, chớ không thể theo hướng cộng sản như những lý thuyết gia công sản dự đoán. Lịch sử, không cách gì khác hơn, sẽ mở ra một thế giới tự do, với những chánh phủ dân cử, với những quyền cá nhơn được luật pháp bảo đảm, tư bản lưu hành dưới sự kiểm soát tương đối của Nhà nước.

Khi đối chiếu với thực tế ngày nay, thế giới từ năm 2014 đã thay đổi. Nước Nga có bầu cử nhưng dưới sự kiểm soát chặc chẻ của nhà cầm quyền, trở thành một mối hăm dọa an ninh chung, nhứt là đối với các nước láng giềng. Tàu vẫn là một nước độc tài tuy kinh tế có phát triển mạnh trong thời gian qua.

Vấn đề của thế giờ ngày nay là những chế độ độc tài, vừa trở lại hoặc còn lại, chẳng những mạnh, hung hăn mà nhiều nước dân chủ, kỳ cựu hoặc vừa chuyển đổi, lại có sức khoẻ trên đà suy yếu. Những nước vừa thay đổi dân chủ như Turquie, Sri-Lanka, Nircaragua,… lại trở lại chế độ độc tài hoặc như Bulgarie, Roumanie bị tham nhủng hoành hành, khó thực thi dân chủ.

Nhình chung, từ năm 2005, theo Freedom House, số nước đạt được dân chủ dựa trên cách đo “bầu cử hạn kỳ, tự do báo chí, tự do tập họp,… và phẩm chất dân chủ đã bắt đầu giới hạn trong những năm sau này. Về mặt tâm lý xã hội, Huê kỳ và Tây Âu là mô hình dân chủ tự do, nhưng vì bị hơn mươi năm kinh tề khủng hoảng nghiêm trọng nên lập luận dân chủ tự do là điều kiện nền tảng để kinh tế thị trường phát triển đã mất đi sức hấp dẩn khá nhiều.

Dân chủ vẫn thắng

Dựa trên những xu hướng lớn của lịch sử, người ta ghi nhận thế giới thay đổi sâu xa trong vài thập niên qua. Sản xuất xã hội gia tăng mạnh, ít nhứt từ năm 1970 cho tới năm khủng hoảng 2008. Mặc dầu bị khủng hoảng nhưng thạnh vượng của thế giới vẫn giử ở mức cao nhờ biết dựa theo hệ thống tự do trao đổi và đầu tư. Ngay cả nưóc cộng sản độc tài như Tàu và Việt nam cũng biết tuẩn thủ luật thị trường và cạnh tranh để kinh tế phát triển. Mà dân chủ tự do thường nảy sanh từ từng lớp dân chúng khá giả và có học thức. Vì người dân càng có tiền, đóng thuế càng cao thì càng đòi hỏi nhà cầm quyền phải biết tôn trọng quyền lợi của họ. Trái lại, những quốc gia giàu nhờ dầu hỏa như Nga, Vénézuela, các ước vùng Vịnh, ngân sách không phụ thuộc thuế nên dễ trở thành độc tài.

Về mặt tư tưởng, dân chủ định hình thành thể chế thường rất chậm. Nhưng dân chủ cho tới ngày nay vẫn chưa có cạnh tranh tương xứng. Ngước Nga của Poutine, Iran của ayatollahs, Tàu và Việt nam của đảng cộng sản, vẫn khoe khoang mình là nước dân chủ. Chưa bao giờ có nước độc tài nào dám vổ ngực xác nhận “chúng tôi là độc tài đây.” Nên Poutine mới cho tổ chức trưng cầu dân ý ở Đông Ukraine, ở Việt nam, đảng cộng sản đã quyết định xong mọi việc, vẫn tổ chức bầu Quốc Hội để vổ tay chào mừng chánh phủ mới.

Dân chủ là cái gì mà những người độc tài cần như ánh sáng rọi vào gương mặt âm u của họ để mong làm cho dịu bớt nét rùng rợn.

Xưa nay, người cầm quyền không do dân bầu tự do và có định kỳ, mà do cướp được, như các chế độ cộng sản, thì không bao giờ họ muốn thực hiện dân chủ. Họ phải giử quyền lực bằng mọi giá như tư hữu của họ và xem dân là kẻ thù nguy hiểm hơn hết vì người dân chính là kẻ lấy lại quyển lực quốc gia. Nên muốn giành chánh quyền về mình, giành lại quyền tự mình cai trị chính mình, thì người dân phải tranh đấu. Phải dám quyết định và dấn thân.

Khi thấy kinh tế quốc gia bắt đầu tăng trưởng, xã hội bắt đầu thay đổi thì sự thay đổi này luôn luôn đòi hỏi, tiếp theo đó, chánh trị mở rộng để mọi người có thể tham gia. Vì dân chủ mới bảo đảm được sự tăng trưởng kinh tế và cải thiện xã hội.

Ai cũng biết Dân chủ là quyền của người dân tự quyết định vận mệnh của mình. Nhà cầm quyền là sản phẩm của dân. Nhưng trên thực tế, không thiếu nhà cầm quyền phản dân, hại nước mà vẫn tồn tại bởi người dân không quyết định thay đổi. Vì không dám hoặc vì thiếu ý thức và vô trách nhiệm.

Thay đổi dân

Người ta chỉ nói thay đổi chánh quyền, chớ chưa nghe nói “Thay đổi dân.” Nay cần đặt vấn đề “Thay đổi dân” khi không thể thay đổi thứ nhà cầm quyền phản dân, hại nước. Ý nghĩ nghe qua rất nghịch lý nhưng đã đặt thành vấn đề khi nói về kết quả bầu cử ở Do Thái vừa rồi, ông Benyamin Nétanyahou tái đắc cử.

Kết luận đầu tiên từ kết quả thăm dò cử tri vừa ra khỏi phòng phiếu rất bi quan: “Dân chúng cử tri phải được thay đổi.”

Dư luận do thái giải thích về hiện tượng đắc cử của cựu Thủ tướng Benyamin Nétanyahou “Chúng tôi không đặc vấn đề tổ chức bầu cử lại để chọn người lãnh đạo khác, mà muốn đem lại cho Do Thái một dân tộc mới, khác hơn, để tổ chức lại tổng tuyển cử. Nhơn dân do thái không thể chịu nổi thêm một nhiệm kỳ nữa của ông Benyamin Nétanyahou.”

Bình luận gia do thái Gideon Levy, trên báo Haaretz ngày 18/03/2016, mạnh dạng phê bình đồng bào của ông đã chọn ông Benyamin Nétanyahou làm Thủ tướng thêm một nhiệm kỳ nữa. Chẳng khác nào “chọn cách giải quyết hòa bình với á-rặp.” Vậy thì chỉ còn cách phải “thay dân” mà thôi.

Ông Gideon Levy tìm liên kết với trí thức á-rặp, những người thất vọng về những cuộc cách mạng vừa qua.

Chính những người á-rặp này cũng kêu gọi hảy “thay đổi dân.”

Dưới thời Đông Đức, soạn giả hài kịch người Đức Bertolt Brecht, trong một bài thơ châm biếm, đã đề nghị những người cộng sản nếu thấy nhơn dân không đáp ứng được sự mong đợi của họ thì hảy thay bằng một thứ nhơn dân khác.

Vấn đề thay dân, tưởng chắc cũng nên thử đặt ra cho trường hợp Việt nam. Trước nhà cầm quyền cộng sản đại gian, đại ác như vậy mà dân vẫn tỏ thái độ vô cảm. Thanh niên, sinh viên ái quốc đã đứng lên tranh đấu đòi thay đổi chế độ bạo ngược, chịu đàn áp, trù dặp, tù đày, nhưng vẫn chưa thức tỉnh được lương tâm xã hội thì còn cách nào khác hơn là thay thứ dân này bằng một thứ dân khác, nhại cảm về thảm họa mất nước, dân tộc bị diệt vong do đồng chí Bắc kinh của nhà cầm quyền ở Việt nam hiên nay gây ra?

Thật đau lòng!

Nguyễn Văn Trần

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
Những em bé tò mò, lần đầu tiên ngước mắt lên trời, thấy trăng sao, lập tức nảy sinh ước muốn thám hiểm cõi mênh mông ở cuối, ở xa hơn tầm mắt mình. Lớn lên, ý thức được kích thước Vũ Trụ và giới hạn của đời người, biết đường dài dẫn tới một tinh cầu có thể đòi hỏi sự nối tiếp của muôn triệu kiếp người. Tỉnh ra và thất vọng. Ước muốn chỉ còn là ước mơ vương vấn nơi những truyện khoa học giả tưởng huyền hoặc vẽ ra hình ảnh một con tàu kỳ diệu: một ngày kia khoa học tiến bộ, hành khách đáp phi thuyền du lịch tối tân sẽ lọt vào cõi thời gian ngừng trôi, có cuộc đời dài vô tận, tha hồ chu du khắp cùng vũ trụ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.