Hôm nay,  

Vn Gian Nan Hội Nhập 2005

11/01/200500:00:00(Xem: 15556)
Cách đây đúng 10 năm, Việt Nam đệ đơn gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO; triển vọng đó giờ đây vẫn mờ mịt và còn có thể khó khăn hơn do những đòi hỏi từ phía Hoa Kỳ.
Phóng viên Việt Long của Đài RFA, trên chương trình Diễn Đàn Kinh Tế, đã trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về nỗi gian nan của Việt Nam trên con đường hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu như sau.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, cách đây không lâu, các nhà lãnh đạo Hà Nội còn hy vọng là Việt Nam sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào mùng một Tháng Giêng năm nay. Giờ đây, niềm hy vọng ấy không thành, mà dường như Việt Nam còn gặp nhiều trở ngại mới. Chương trình chuyên đề về kinh tế sẽ đề cập tới vấn đề nói trên nên xin ông trước hết tóm lược nội dung của hồ sơ này cho thính giả nghe đài.
-- Về WTO, Tổ chức Thương mại Thế giới này là một câu lạc bộ giữa các nước tự nguyện theo quy luật thị trường để trao đổi và mua bán với tối thiểu hạn chế và tối đa tự do. Tổ chức này gồm hơn 180 hội viên, chi phối luồng trao đổi của 90% hàng hoá trên thế giới và chỉ đón nhận hội viên mới nếu toàn thể đồng ý. Mục tiêu là giải toả mọi hạn chế, như hàng rào quan thuế hay hạn ngạch quota xuất nhập cảng để phát triển ngoại thương giữa các nước vì ngoại thương góp phần đáng kể cho sự thịnh vượng hoặc xoá đói giảm nghèo. Vì là hậu thân của nhiều định chế hợp tác theo quy luật tự do mậu dịch, WTO kết hợp trước sau khoảng 17 hiệp định chung về thương mại và thuế quan, quốc gia nào gia nhập cũng phải tuân thủ các hiệp định ấy. Trong tương lai, nếu kịp hoàn thành vòng đàm phán về tự do mậu dịch phát động hồi tháng 11 năm 2001 tại Doha của xứ Qatar, WTO có thể còn có nhiều quy định mới. Nói chung, đây là một tổ chức năng động, và cơ chế sinh hoạt vì vậy còn thay đổi để đáp ứng tình hình trao đổi thực tế giữa các nước, trong đó có một phần rất quan trọng là những điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển, nghĩa là các nước nghèo và sở dĩ nghèo cũng vì chủ yếu chưa có tự do kinh tế.
Hỏi: Thế Việt Nam đã xin gia nhập tổ chức ấy như thế nào"
-- Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO vào mùng bốn Tháng Giêng năm 1995 và tổ chức này đã đề cử ra một nhóm đại diện 63 nước hội viên, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, các hội viên Liên hiệp Âu châu, để cứu xét đơn gia nhập. Sau chín đợt hội họp kể từ 1998, đợt thứ chín là ngày 15 tháng 12 vừa qua, WTO cho biết là Việt Nam đã cố gắng mà chưa đủ, và phải thương thuyết thêm cho kịp Hội nghị cấp Bộ trưởng ở Hong Kong vào cuối năm nay. Việt Nam trình bày sự việc như một hy vọng vào cuối năm nhưng từ đầu năm nay, các nước hội viên đều bãi bỏ chế độ hạn ngạch với nhau, nên Việt Nam sẽ bị cạnh tranh rất mạnh, nhất là từ các lân bang Đông Á và dân Việt Nam sẽ bị thiệt nặng.
Hỏi: Thưa ông, cách đây sáu tháng, Hà Nội vui mừng báo tin rằng Liên hiệp Âu châu đã đồng ý ủng hộ việc Việt Nam gia nhập WTO. Vì sao mà giờ này lại còn có trở ngại ấy"
-- Quốc gia nào cũng sẵn sàng ủng hộ một nước khác đi vào con đường tự do mậu dịch, vì điều ấy có lợi cho đôi bên. Và lời phát biểu ấy còn có mối lợi ngoại giao là làm đẹp lòng nhau. Nhưng muốn vào tới đó thì còn phải chấp nhận một quy luật thực tế là “dễ người dễ ta, khó người khó ta”. Mình muốn tự do bán hàng cho xứ khác mà lại chưa chấp nhận cho xứ khác tự do bán hàng vào thị trường của mình thì ta vẫn chỉ có tự do một chiều, tự do hạn chế. Cho đến nay, WTO chưa thấy hài lòng với việc giải tỏa mậu dịch và kinh tế tại Việt Nam, dù vấn đề đã được nêu ra, giải thích và trao đổi nhiều lần trong ngần ấy phiên họp. Từ tháng Ba năm ngoái, WTO cho biết là Việt Nam sẽ phải có “bước nhảy vọt” nếu muốn kịp gia nhập vào cuối năm. Bước nhảy vọt ấy không có, đôi bên vẫn cò kè bớt một thêm hai và Việt Nam vẫn đứng ngoài trào lưu hội nhập vì cải cách quá chậm lụt.
Hỏi: Theo dõi các cuộc đàm phán này, ông thấy các nước hội viên nêu ra những vấn đề gì khi đình hoãn việc Việt Nam gia nhập WTO"
-- Thưa mỗi quốc gia hay nhóm quốc gia lại quan tâm đến một số lãnh vực. Thí dụ như các nước xuất cảng nông phẩm thì phàn nàn về chế độ trợ giá nông phẩm của Việt Nam, như cà phê chẳng hạn, có nước thì đề cập đến chế độ kiểm soát đầu tư, hay hạn chế nhập cảng, hoặc bảo vệ doanh nghiệp nhà nước, v.v... Nói chung, ngoài những trì trệ hay nhiêu khê về luật lệ đã từng được quốc tế khuyến cáo và than phiền, có bảy đề mục đã được nêu ra để lãnh đạo Việt Nam giải thích hay hứa hẹn thời hạn khai thông, cải cách. Đó là thứ nhất, Việt Nam vẫn phân biệt đối xử đầu tư, nôm na là vẫn có chế độ kỳ thị đầu tư nước ngoài, vì hạn chế ngạch số, tỷ lệ hùn hạp, hoặc cấm đầu tư ngoại quốc trong một số lãnh vực. Điều đó khiến ta nhớ đến việc tập đoàn bảo hiểm New York Life vừa quyết định rút khỏi Việt Nam sau hơn ba năm chầu chực với tờ giấy phép mà không nên cơm cháo gì. Hà Nội biện bạch là vì lý do an ninh, bảo vệ trật tự và môi sinh và hứa hẹn là năm nay Quốc hội sẽ ban hành luật lệ bãi bỏ sự kỳ thị ấy. Đề mục này còn đáng chú ý vì điều gọi là an ninh hay trật tự ấy có hạn chế việc đầu tư trong các ngành liên hệ tới truyền thông, xuất bản văn hoá phẩm, v.v... là những ngành mà Hà Nội vẫn muốn giữ độc quyền.

Hỏi: Thế còn đề mục thứ hai và các đề mục khác, thưa ông"
-- Đề mục thứ hai là chế độ trợ cấp của Việt Nam, nhất là đối với nông phẩm. Nhiều nước xuất cảng nông phẩm đòi bãi bỏ trợ cấp ngay từ khi gia nhập chứ không có thời gian ân hạn. Đề mục thứ ba là có sự kỳ thị về quyền mậu dịch nên vi phạm nhiều điều khoản của Thỏa ước Ngoại thương và Quan thuế Tổng quát. Thứ tư là nhiều nước đòi hỏi được cung cấp thông tin rõ rệt hơn về các doanh nghiệp nhà nước. Đề mục này đáng chú ý là vì càng có thông tin, cụ thể là có sổ sách rõ ràng, thì càng phát giác ra nhiều vụ tham nhũng động trời ở cấp cao nhất của doanh nghiệp và nhà nước, như tình hình năm qua có cho thấy. Đề mục thứ năm là Việt Nam có hạn chế nhập cảng một số mặt hàng đã sử dụng, như đầu máy hay lốp xe cũ, hoặc phụ tùng cơ phận và xe gắn máy. Đề mục thứ sáu là tiêu chuẩn quá thấp của Việt Nam so với Thỏa ước về Vệ sinh và Vệ sinh Thực vật. Sau cùng là đề mục được Hoa Kỳ quan tâm, là việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chưa đạt tiến độ đáng kể.
Hỏi: Nói tới Hoa Kỳ, thưa ông, Việt Nam có thể chờ đợi gì từ hội viên này của WTO"
-- Tôi nghĩ là chờ đợi những lời khích lệ và rất nhiều khó khăn vì Hoa Kỳ đang có những tiêu chuẩn khác trong lãnh vực mậu dịch. Trước khi nói đến trường hợp Việt Nam và hồ sơ WTO, có lẽ mình cần nhìn ra toàn cảnh. Sau bế tắc tại Cancun vào tháng Chín năm kia, tổ chức WTO bị khựng và vòng đàm phán Doha mà tôi vừa nhắc tới đã gặp trở ngại mất gần một năm. Đồng thời, vì lý do an ninh, Hoa Kỳ đang theo đuổi cuộc chiến chống các lực lượng Hồi giáo ngụy danh Thánh Chiến mà tiến hành khủng bố. Mục tiêu an ninh ấy trở thành ưu tiên chiến lược của Mỹ và dẫn tới hệ quả bất ngờ cho nhiều người là muốn chống khủng bố thì phải dân chủ hóa như Tổng thống Bush đã loan báo tại Anh từ tháng 12 năm kia. Trong cảnh ách tắc của các diễn đàn đa phương về mậu dịch và ưu tiên chiến lược là diệt trừ khủng bố, chính quyền Mỹ mở ra hàng loạt các đàm phán song phương để ký kết hiệp định thương mại hay đầu tư với từng nước được coi là đồng minh. Chúng ta phải nói tới lá phiếu của Hoa Kỳ cho Việt Nam gia nhập WTO trong khung cảnh mới ấy.
Hỏi: Hậu quả cụ thể của những yếu tố mới ấy là gì"
-- Chính quyền Hoa Kỳ ngày nay chủ trương và thúc đẩy tự do mậu dịch, nhưng chủ động tiến hành việc ấy với từng quốc gia hay từng nhóm quốc gia trong từng khu vực và tạo ra một thế cạnh tranh rất gay go cho các nước, vì quốc gia nào cũng muốn có quy chế tự do như vậy với Hoa Kỳ, với một thị trường nhập cảng lớn nhất thế giới. Thứ hai, trong khi Hoa Kỳ đang đứng trên tuyến đầu của trận chiến chống khủng bố thì nhiều xứ lại phản đối mà vẫn muốn làm buôn bán dễ dàng với Mỹ. Tại Trung Đông, nhiều nước không ủng hộ kế hoạch hoà bình của Hoa Kỳ nhưng vẫn muốn kiếm lợi trong kế hoạch tự do mậu dịch do Mỹ đề xướng. Trước sự bành trướng đáng ngại của Trung Quốc khi Hoa Kỳ bận đối phó với khủng bố thì nhiều nước Đông Á lại bọc xuôi theo Bắc Kinh để kiếm lời mà vẫn mong được Hoa Kỳ bảo vệ về an ninh khi hữu sự. Kể từ nay, người ta nên chờ đợi là ngần ấy vấn đề về an ninh và quyền lợi mậu dịch sẽ được giàng với nhau. Một cách cụ thể, Hoa Kỳ xướng xuất khái niệm mới là “vượt qua WTO”, “WTO Plus”, với biện pháp giải tỏa còn triệt để hơn những quy định của WTO. Tiêu chuẩn về tự do kinh tế, dân chủ chính trị và hợp tác an ninh nay được đặt cao hơn và gần như lồng làm một. Việc Đại sứ Robert Zoellick, Đại diện Thương mại của Hoa Kỳ, được đề cử làm Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ báo hiệu rất nhiều biện pháp ngoại giao triệt để và rốt ráo từ phía Hoa Kỳ.
Hỏi: Nếu như vậy thì điều đó sẽ ảnh hưởng ra sao đối với Việt Nam"
-- Tôi nghĩ rằng điều đó còn tùy vào giới lãnh đạo Việt Nam. Đối với Hoa Kỳ, Việt Nam là một ưu tiên thấp; đối với toàn khu vực Đông Á, Việt Nam là một thực thể kinh tế không đáng kể. Ta có thấy báo chí quốc tế nói gì đến những thăng trầm hay thành bại của Việt Nam ngày nay đâu" Nhưng, trong vụ tranh chấp về tôm, Việt Nam được bộ Thương mại Mỹ đề ra một thuế biểu rất thấp nếu so với thuế biểu trừng phạt đặt ra cho ngành tôm của Trung Quốc. Và một phần những khó khăn về hạn ngạch dệt may của Việt Nam đã xảy ra chính là vì nạn tham nhũng trong chính quyền, chứ không hẳn là từ phía Hoa Kỳ. Vì vậy, ngoài yêu cầu về cải cách như WTO và các định chế quốc tế từng đề ra cho Việt Nam, Hoa Kỳ không đòi hỏi gì hơn là một nền kinh tế thị trường đích thực, một chế độ chính trị dân chủ hơn, không đàn áp nhân quyền hay tự do tôn giáo, và một lập trường thân thiện hơn với Hoa Kỳ trên các diễn đàn quốc tế. Những điều đó tùy thuộc vào sự chọn lựa khôn ngoan của nhà cầm quyền Việt Nam. Dĩ nhiên là họ cũng tìm cách vận động nước khác hay các tổ chức ngoài chính phủ bênh vực quan điểm của mình để thuyết phục Hoa Kỳ, nhưng hiệu quả đến đâu thì cuối năm nay mình mới biết được trong khi chờ đợi một kỳ họp nữa với WTO vào giữa năm nay.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.