Hôm nay,  

Bịnh sợ dưới chế độ CS

07/10/201608:19:00(Xem: 13091)

Bịnh sợ dưới chế độ CS

Trần Trung Đạo


Sợ là một ý thức hiển nhiên gắn liền với số phận con người. Sợ sống, sợ già, sợ đau, sợ chết, nói chung, sợ tất cả những hiện tượng mà con người luôn phải đối đầu nhưng chưa giải thích được bản chất của chúng.

Tuy nhiên, dưới chế độ CS sợ là một căn bịnh xã hội và bịnh phát cơn khi có một nguồn kích động xảy ra. Giống như ánh sáng tuy không phải là lý do của bịnh đau đầu kinh niên nhưng mỗi khi bịnh nhân bước vào căn phòng quá sáng hay đèn bật sáng bất ngờ, cơn nhức đầu lại bừng bừng nổi dậy.

Trong nước, từ một em bé tiểu học cho đến một cán bộ đảng cao cấp có lập trường chính trị hồng như ráng trời chiều đều có ít nhiều vi khuẩn sợ trong người. Từ những bài tập viết văn cho đến các tiểu luận, biên khảo vẫn nặng phần trích dẫn. Thậm chí trong một bài viết vỏn vẹn hai trang đã hơn một nửa là trích dẫn những câu kinh điển do các "lãnh tụ anh minh" CS nào đó để lại. Trích dẫn không phải để chứng minh cho cái đúng hay che giấu cái dốt của mình mà quan trọng hơn là để an tâm.

Trong buổi họp, nếu ai lên tiếng phàn nàn, phản đối trước một đề nghị nào đó, chủ tọa chỉ cần dọa "một lần đề nghị đó cũng chính là ước vọng của lãnh tụ anh minh", tức khắc sự phàn nàn dù không ai khuyên cũng xì nhanh hơn bong bóng. Thói quen dựa hơi những người được trao cho quyền "bất khả xâm phạm" trong xã hội, dù còn sống hay đã chết, cũng đều từ sự sợ hãi mà ra. Thói quen đó đã theo thời gian phát triển thành một cố tật trong sinh hoạt văn hóa xã hội tại Việt Nam.

Ngoài nịnh bợ, bịnh sợ hãi còn gây ra biến chứng trầm trọng khác là đổ thừa. Trong các bài tự phê bình chính thức hay không chính thức, những lý do khách quan bao giờ cũng nhiều hơn chủ quan. Chậm tiến là vì, nghèo đói là vì, tham nhũng là vì, tuyệt nhiên không có cái vì nào trong số đó là lỗi của mình.

Trong lúc sự sợ hãi là một phần của số phận con người như vừa trình bày, nó chỉ trở nên tai họa tập thể khi mức sợ hãi phát triển thành một bịnh trạng của cả xã hội, tồn tại như một phần của đời sống văn hóa, gây nên những phản động lực cản trở sự phát triển tinh thần của con người và ngăn chận sự thăng tiến của xã hội.

Trong lịch sử của nhân loại thời cận đại, xã hội Liên Xô dưới thời Stalin và Bắc Hàn trong thời Kim Nhật Thành, có thể được xem là những nơi căn bệnh sợ hãi đã bị xã hội hóa đến mức độ gần như toàn diện.
.
Dưới chế độ toàn trị của Stalin, con người thấy chung quanh họ không có ai là bạn mà chỉ toàn là kẻ thù, kể cả cha mẹ, vợ chồng, anh em, bè bạn. Đảng có kẻ thù của đảng, nhà nước có kẻ thù của nhà nước, nhân dân có kẻ thù của nhân dân.  Chủ trương trồng cấy vi khuẩn sợ hãi vào toàn bộ xã hội Liên Xô của Stalin thành công đến mức có lần y cho rằng một ngày các cơ quan an ninh để kiểm soát dân chúng có thể không còn cần thiết. Lý do Stalin tự tin như thế bởi vì sợ hãi đã có thể tự quản được trong chính mỗi con người.

Bệnh trạng sợ hãi tại Bắc Hàn so với Liên Xô còn trầm trọng hơn vì nhiều nơi tại Bắc Hàn con người được thuần hóa đến mức không còn biết sợ là gì. Nhận thức của con người họ phụ thuộc hoàn toàn vào một trung tâm chỉ đạo ý thức được điều khiển từ bên ngoài.

Nhiều người dân Bắc Hàn hoàn toàn mất ý niệm không gian và thời gian. Ngày tháng và nơi chốn đã bị đổi thay sau khi Kim Nhật Thành xóa bỏ niên lịch AD đang được dùng trên thế giới và thay vào đó bằng lịch Juche lấy năm sinh của họ Kim làm chuẩn. Ví dụ, năm 2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ đối với phần lớn thế giới nhưng tại Bắc Hàn chỉ mới là năm Juche 99.  

Nếu lý luận theo quan điểm kinh tế của Mác, khi mức độ xã hội hóa của nền kinh tế đạt đến mức toàn diện, chế độ kinh tế tất yếu sẽ biến thái, thì sự biến thái của các xã hội khống chế bằng nỗi lo sợ toàn diện như trường hợp Bắc Hàn, không có gì khác hơn là mang con người trở về thời nguyên thủy.  

Cũng may, con người có  lý trí và dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã đến đâu nghị lực con người vẫn âm thầm phản kháng và tìm mọi cách vươn lên. Phong trào chống sợ và vươn lên như thế đang lan rộng tại Việt Nam. Đó là một tin mừng, bởi vì bịnh sợ càng thuyên giảm nhanh bao nhiêu, ngày tự do cho đất nước sẽ đến sớm bấy nhiêu.


Trần Trung Đạo

 .

hội Asian Business Association of Orange County đã tổ chức buổi lễ tôn vinh tính phong phú của văn hoá đa dạng. Đồng thời, những người đã có công làm phong phú văn hoá Mỹ-Á
Trong bức tâm thư cho Phật tử đề ngày 24 tháng 10 năm 2012.Thượng Tọa Thích Nguyên Thảo Trụ Trì Chùa Hoa Nghiêm viết: Thế gian Thường trụ Phật bảo như tượng vàng, tượng ngọc, Phật đồng, Phật đá, Phật xi măng, Phật gổ ...
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1906-1963) có 4 quyết định quan trọng cho đời ông nhưng đồng thời cũng là bốn quyết định có ảnh hưởng mạnh lên đời sống của dân tộc Việt Nam. Đó là: Sáng tác hai tác phẩm đầu tay Nho Phong và Người Quay Tơ khi chưa đầy 20 tuổi năm 1926
Vào năm 1994, trước tình hình đàn áp nhân quyền trầm trọng của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN), nhiều tổ chức và cá nhân tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền trong và ngoài nước đã vận động thành công Quốc Hội và Chính Phủ Hoa Kỳ thông qua quyết nghị chung S.J.Res.168 ấn định ngày 11 tháng 5 (May 11) hàng năm là “Ngày Nhân Quyền Việt Nam”
Sự thành công trong cuộc vận động và định cư khẩn cấp nhà hoạt động môi trường Bạch Hồng Quyền cùng gia đình của ông được đến bến bờ tự do của tổ chức VOICE và VOICE Canada vào ngày 3 tháng 5, 2019 vừa qua, đã là một câu trả lời mạnh mẽ cho những kẻ chuyên loan tin bịa đặt
Thơ NĐT không có giọng kêu réo kể lể hay chia sẻ với ai cả, chỉ là những lời thở than thì thầm với chính mình, những tiếng nói không mạch lạc, những mảng âm thanh rời rạc chán chường thờ ơ: Thịt da hay là đá, Ta hỏi rồi ta nghe...
Bỗng sáng nay vào ngày 30 tháng 4 lúc 2 trưa, tại Tacoma có những hạt nắng vỡ vụn ngoài trời, chen lẫn với bước chân chim vừa xôn xao vừa đong đưa trên hè phố của vùng trời hiu quạnh.
Xin được viết bài này để trước tiên cảm ơn Mẹ Nấm về lời phát biểu của bà trươc cộng đồng người Việt ở Nam California về việc xin thông cảm cho bà vì còn dùng những danh từ của cộng sản vì mới qua chưa thể nào nhanh chóng sửa đổi được những ngôn từ bên đó.
Thạch Sanh Lý Thông thoạt đầu là truyện được truyền miệng trong dân gian từ khi dân Việt còn quần cư ở châu thổ sông Hồng. Truyện Thạch Sanh thuộc loại truyện cổ tích thần kỳ
không ai có thể phủ nhận thành tựu trong Giáo dục là một trong những thành công quan trọng nhất và rõ rệt nhất, đồng thời cũng là một nét vàng son đáng trân quý trong nếp sống và sinh hoạt ở Miền Nam thời trước năm 1975.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.