Hôm nay,  

Đêm đầy sao

10/02/201713:36:00(Xem: 11019)
Đêm đầy sao
blank
​  

Đêm tháng Sáu 1889 ở miền Nam nước Pháp, Van Gogh ngồi bất động trong căn phòng ở Nhà thương điên thuộc tu viện St Paul. Tu viện trống trải, Van Gogh cô độc ở căn phòng nhìn ra ban công hướng Tây. Từ đó ánh mắt của người họa sĩ trải dài xuống chân đồi xa thẳm những cánh đồng oải hương, diên vĩ, những cây bách vặn vẹo...Từ căn phòng đó buổi sáng đi lên những tia nắng ​thì thào, buổi chiều lặng lẽ những giọt vàng rơi rớt. ​Và buổi đêm ​thì ​lấp lánh sao, những ánh sao lạc lõng ch​ó​i lòa. Đêm như cuồng quay ảo giác. Đêm xoay tròn ảo mộng. Thế là Van Gogh vẽ The Starry Night – Đêm Đầy Sao. 

 
Ông vẽ một cách cuồng điên, vẽ như cố trải bày​,​ vẽ như cố quên đi. Nhưng không sao quên được cái buổi chiều hỗn loạn, đầy bạo động, máu me và khó hình dung nỗi. Ông đã cắt vành tai trái của mình. Vì hành vi này mà người đời cho ông bị điên và ông vào nơi này.

    

Van Gogh nhớ lại những ngày thơ ấu ở Hà Lan. Mười lăm tuổi phải bỏ học để đi làm trong một cửa hàng bán tranh, sau đó thường xuyên đi khắp Châu Âu, ông thấy mình trở nên trầm uất và tìm vào tôn giáo như cứu cánh. Van Gogh trở thành giáo sĩ Tin Lành một thời gian ngắn ở miền Nam nước Bỉ. Vẫn ngập trong cô đơn và sức khỏe suy yếu, ông trở về quê nhà. Nhập học được 4 tháng ở Viện Hội họa Hoàng Gia (Bỉ) thì nghỉ học. Van Gogh bắt đầu lao vào giá vẽ. Cuộc đời họa sĩ của ông bắt đầu từ những trang vải bố hoàn toàn nhờ sự giúp đỡ và chu cấp tài chánh từ người em trai ruột Theo. Chỉ có Theo là người duy nhất mà Van Gogh tìm được sự giao tiếp và liên lạc thân thiết cho đến cuối đời. Theo là người em, người bạn duy nhất trong đời sống lẻ loi cô độc và bất hạnh trong đường tình của người họa sĩ thiên tài này. Để dành tiền cho sơn dầu và đồ vẽ, Van Gogh ăn uống thiếu thốn, chỉ với bánh mì và cà phê, tất nhiên là nhiều rượu. Sức khỏe và tinh thần ngày càng ​suy sụp. 

Van Gogh vẽ và tìm kiếm lối đi riêng trong nghệ thuật như bao người họa sĩ thời ấy. Những năm trước đó Van Gogh đã vẽ thật nhiều, phần lớn là tranh tỉnh vật. Những tông màu tối và u uất, phản ánh những mối tình khổ lụy. Mối tình ngắn ngủi với cô gái Margot Begemann ​lớn hơn ​ông ​10 tuổi. Gia đình 2 bên không chấp nhận, Margot uống thuốc tự tử nhưng được Van Gogh đưa vào bệnh viện kịp thời cứu sống. Hay là chuyện tình đơn phương với cô chị họ Kee Vos-Stricker lớn hơn Van Gogh 7 tuổi góa chồng và có con trai 8 tuổi. Van Gogh cầu hôn và bị từ chối thẳng thừng. Tuy vậy Van Gogh cứ đeo đuổi. Một đêm tháng 11, 1881, Van Gogh đến nhà Kee, tay đặt trên ngọn lửa đèn dầu và nói sẽ không rút tay ra chừng nào gặp được Kee. Ông chú thổi tắt đèn và cương quyết từ chối hôn nhân vì Van Gogh quá nghèo để lập gia đình. Tháng Giêng năm sau thì ​V​an Gogh gặp Sien Hoornik một cô gái điếm không nhà đang có bầu trên đường phố. Van Gogh đem cô ta cùng đứa con gái nhỏ về nhà. Từ đó Sien làm người mẫu và có nơi tá túc. Cả hai đều ngh​ĩ​ tới tương lai vợ chồng và gầy dựng hạnh phúci bằng tranh vẽ. Thế nhưng sức khỏe Sien tàn tạ vì rượu và bệnh hoạn, gia đình Van Gogh thì không chấp nhận con dâu làm điếm, lại nghi rằng cô ta đang có thai với Van Gogh. Dưới nhiều áp lực, Van Gogh bỏ 2 mẹ con cuối năm 1883. Sien trở lại đứng đường phố. (Vài năm sau thì cưới một thủy thủ và tự tử ở cảng Rotterndam 1904.)

 

Cô đơn và càng nghèo túng, Van Gogh chỉ còn biết vùi mình vào tranh vẽ. Trường phái ấn tượng đã phổ biến và các họa sĩ hàng đầu thời ấy đã tiên phương làm nên nét đặc thù cho nghệ thuật. Tất nhiên là Van Gogh bị lôi cuốn và bằng thiên tài tiềm ẩn, ông đã sử dụng phong cách của riêng mình qua "bút pháp" vẽ từng nét cọ ngắn. Những âm thanh sột soạt khi vẽ như quất vào vải bố những vết cứa, ngồn ngộn âm ba. Những vết cọ ngắn khi ngang, khi dọc, khi nghiêng, khi xoay tròn. Các đường nét đều gồ ghề. Các bầu trời, mảnh đất, cánh đồng, da mặt đều mộc thô trần trụi, góc cạnh. Không có chút mềm mại ở cánh hoa, ngay cả bầu trời, làn gió. Mọi cái xô dạt cảm giác, mọi cái làm rún rẫy ánh nhìn, mọi cái làm nhói đau tâm tưởng. Chính đó là nét ấn tượng mạnh mẽ mà Van Gogh tìm thấy. Hơn thế, những mảng màu tươi rói ​bổ sung được mạnh bạo sử dụng không run tay. Màu vàng, vành chanh, vàng mỡ gà, vàng nắng cháy...tất cả rực lên trong mặt trời cuồng quay. Trong đêm tối thì các màu xanh cuồn cuộn đổ về, xanh đậm, xanh nhạt, xanh lơ, xanh thẫm và cuốn xoay vào các đám mây trắng mờ trăng, các vì sao vàng lấp lánh...Về bố cục thì Van Gogh lại dành cho đường chân trời thật hẹp, hầu như sát trên cao, để phần lớn tiền cảnh bức tranh mặt đất, cánh đồng, căn phòng...chạy dài trải rộng trước mắt người xem.

  

Van Gogh mến mộ Gaugin một họa sĩ người Pháp tài hoa nổi tiếng đương thời vô cùng. Nhiều lần thư mời Gauguin đến nhà chơi kết bạn và triển lãm tranh. Sau cùng thì Gauguin xiêu lòng và đến Arles vào tháng 10, 1888 sau khi được em trai Theo chu cấp tiền bạc và chi phí. Cả hai cùng vẽ với nhau trong 2 tháng thì thường xuyên cãi vã. Gauguin chừng như cao ngạo và khống chế. Van Gogh thì lo sợ Gauguin sẽ bỏ rơi và tình bạn sẽ đổ vỡ. Sự việc xãy ra như thế nào hôm ấy không ai biết rõ, ngoại trừ Van Gogh và Gauguin. Chỉ biết là sau khi cãi vã Van Gogh trở về phòng, trong đầu âm vọng tiếng nói xa lạ và Van Gogh đã dùng dao cạo cắt vành tai trái, máu chảy rất nhiều. Ông tự băng bó khăn trùm ngang đầu, gói vành tai bị cắt vào giấy và mang đến cho người con gái quen biết ở nhà thổ. Sáng ngày sau cảnh sát đến nhà thấy Van Gogh bất tỉnh và chở vào bệnh viện. Vành tai được đem tới nhưng quá trễ để gắn vào. Từ đó Van Gogh thường xuyên ám ảnh bởi ảo giác thực hư. Ông được bác sĩ Felix Rey đưa về nhà mình chăm sóc, Van Gogh vẽ tặng bác sĩ bức chân dung, vị bác sĩ không ưa thích gì lắm bức tranh, dùng nó làm che chuồng gà, rồi sau đó cho đi. (Năm 2016 bức tranh được treo ở Viện bảo tàng nghệ thuật Pushkin và giá trị ước chừng 50 triệu đô la.)

Hai tháng sau Van Gogh tình nguyện vào nhà thương điên. Ông viết thư cho em trai kể rằng: Đôi khi tâm trạng thay đổi và đau khổ không diễn tả được, thi thoảng những mảng mù của thời gian và thời khắc bạo tàn dường như xé toan ra tức thì. Trong khoảng thời gian 1 năm ở tu viện, Van Gogh đã đạt đến độ chín muồi của sáng tác. Tháng Năm 1890, Van Gogh rời tu viện trở về Bắc nước Pháp để sống gần với em trai. Ông càng vẽ nhiều, có khi 3 bức một ngày. Những cánh đồng lúa mạch vàng dạt xô trong gió miền Bắc nước Pháp đã cuốn hút tâm hồn ông. "Những cánh đồng mênh mông dưới bầu trời cuồng nộ. Chúng như bày tỏ nỗi buồn và niềm cô đơn cực kỳ. Những tấm vải bố sẽ nói giùm tôi."

  

Ngày 27 tháng 7, 1890 ở tuổi 37, Van Gogh bắn vào ngực mình. Không ai biết rõ là Van Gogh tự bắn mình trong cánh đồng lúa chín vàng hay trong một trại vắng. Một mình ôm vết thương Van Gogh lê bước về nhà. Hai vị bác sĩ đến chăm sóc nhưng không phải là bác sĩ giải phẩu để lấy viên đạn ra. Họ để ông nghỉ trong phòng riêng. Sáng hôm sau người em trai Theo vội đến gặp thấy ông trên giường lẻ loi với ống vố. Và khuya hôm 29 tháng 7 thì Van Gogh ra đi vĩnh viễn. Câu trăn trối bên tai Theo là: Nỗi buồn sẽ còn mãi.  

  

Những bức tranh của Van Gogh dần dà nổi tiếng sau khi ông mất​, nhờ công lao của người em dâu. ​Hơn 2,100 tác phẩm, bao gồm 860 bức sơn dầu​, trong đó khoảng 100 tuyệt tác trong thời gian khủng hoảng tinh thần lúc cuối đời. Van Gogh là họa sĩ người Hà Lan vĩ đại nhất sau Rembrandt. Tranh của ông được xem là một trong những họa sĩ đắt giá nhất thời đại. Bức Hoa Diên Vĩ (Irises) được bán giá $53.9 triệu, bức Chân Dung Bác Sĩ Gachet bán $82.5 triệu đô... Viện Bảo Tàng Van Gogh ​do con trai Theo thừa hưởng bộ sưu tập và khánh thành năm 1973 ở Amsterdam trở thành nơi thu hút gần 2 triệu người xem năm 2015. 

 
Những người xa lạ trong cõi nhân gian đến xem tranh ông, xem những nhát cọ tang bồng trên mảnh đời bất hạnh trong tình yêu, xem những cánh đồng lúa vàng xô dạt nỗi cô liêu và xem bầu trời đầy sao. Những vì sao vàng lấp lánh nỗi buồn. Nỗi buồn còn mãi trên phận người ​điên dại. Như ca khúc Starry Night của Don Mclean sáng tác năm 1971 ngợi ca về ông:

 

Đêm đầy sao
Tô lên bảng màu xanh và xám
trong tháng ngày hè 
bằng ánh mắt từ đáy sâu nội ngã
Những bóng dáng trên đồi
Vẽ cây cối và hoa thủy tiên
hứng gió rét mùa đông
trên sắc màu của nền đất vải phủ tuyết

Đêm đầy sao
Những đóa hoa như lửa cháy sáng lòa
Những đám mây xoáy tròn trong màu tím mù sương
phản ánh trong mắt một màu xanh đồ sứ
Màu chuyển sắc độ
Những cánh đồng lúa mạch như hổ phách
Những khuôn mặt hằn nét nhọc nhằn
như dãn ra dưới bàn tay họa sĩ

Đêm đầy sao
Những bức chân dung trên hành lang vắng
Những mặt người không khung, trên tường không tên 
Với ánh mắt nhìn vào trần gian khó quên
Giống như người xa lạ mà ta vừa gặp
Những kẻ nghèo hèn trong tấm áo tả tơi
Những mũi gai bạc từ cánh hồng huyết dụ
úa tàn v​ỡ​​ ​nát trong tuyết đầu mùa

  

Nhân gian không hiểu và lắng nghe 
Và có lẽ mãi mãi không bao giờ hiểu.  

 
Sean Bảo

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.