Hôm nay,  

Đêm Ba Răng

16/03/201700:02:00(Xem: 7905)

(Nhân Lễ Kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Ra Đi được tổ chức tại Hội quán PGHH vào sáng Chủ Nhật 19-3-2017)

Ngày 25 tháng 2 Al  của 70 năm về trước, trên đường đi tham dự buổi họp với Việt Minh, Đức Huỳnh Giáo Chủ có than thở : “Hôm nay là ngày đau khổ nhất ! Ôi ! sao mà đau khổ quá vầy!”.

Chiều Ba Răng xưa ấy, trời bỗng thôi nắng, mây đen vần vũ kéo nhanh, đen kín cả một bầu trời, im lặng, không một tiếng gió, mọi sinh hoạt như ngừng hẳn.Thật là thê lương.

Hai bờ sông trong những năm tháng kháng chiến, lau sậy um tùm mọc tràn lan, khiến đêm hoang vắng  Ba Răng càng thêm âm u rùng rợn.


Đức Huỳnh Giáo Chủ ra lệnh cho đệ tử chèo thuyền. Ngài vào trong khoang thuyền theo sau là bốn cận vệ quân.Thuyền chầm chậm rẽ nước đi từ ngọn Ba Răng đến chợ Phú thành và vòng tới Đốc Vàng Hạ rạch Láng Thượng nơi có hẹn với Bửu Vinh.


Không ai nói một lời, họ len lén nhìn Đức Huỳnh Giáo Chủ và nhận thấy nét trầm tư nghiêm nghị của Ngài mờ tỏ ẩn hiện qua ánh đèn dầu, đong đưa theo nhịp sóng vỗ, cùng với âm thanh xào xạc của lau sậy hai bên bờ sông giữa màn đêm u tịch. 

Bỗng chốc Đức Huỳnh Giáo Chủ lướt nhìn 4 người cận vệ quân của Ngài bằng ánh mắt từ bi và Ngài hỏi : “Có ai biết đường về căn cứ của mình không ?”. Ba người cận vệ  đồng thanh trả lời : “Thưa Thầy con không biết”. Chỉ có Ông Phan văn Tỷ trả lời : “Dạ thưa Thầy con  biết”. Ngài nói bằng giọng ôn tồn cương quyết  với Ông Phan văn Tỷ :  “Có gì khó, cứ nhắm hướng sao cày chạy riết thì về tới chớ gì”.

Thuyền dừng lại. Đức Giáo Chủ đi trước, theo sau là 4 cận vệ quân lên bờ vào nơi hội họp. Đức Huỳnh Giáo Chủ và Bửu Vinh ngồi đối diện nhau và bắt đầu câu chuyện.


Khoảng 10 phút sau, 8 tên bộ đội Việt Minh từ ngoài vào, chia cặp, kè sát 4 bảo vệ quân của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Ba người bị đâm chết ngay, chỉ còn Mười Tỷ nhờ giỏi võ nên thoát thân. Thấy có biến Ngài đã bình thản đứng dậy lẹ làng, thổi tắt ngọn đèn dầu. Văn phòng trở nên tối đen, không ai biết Ngài đi đâu. Tiếng súng nổ liên hồi liên hồi. Người chèo thuyền chạy về báo cho các tướng lãnh hay.


Và  cũng chính đêm ấy, sau khi được tin tại văn phòng thường trực Chi Đội 30 của các tướng lãnh Phật Giáo Hòa Hảo ở căn cứ Phú Thành, tiếng la hét gào thét , khóc ré, nghẹn ngào nức nở, tiếng tù và, tiếng trống mõ nổi dậy inh ỏi, rung chuyển cả một bầu trời, muôn vạn ánh đuốc bập bùng, hằng trăm hàng ngàn đoàn dân quân với: thương, đao, tầm vông vạc nhọn, súng ống  trong một đêm tối đen thê thương, họ đã sẵn sàng để kéo đi giải nguy, báo thù cho Đức Huỳnh Giáo Chủ ...


Bỗng có tiếng vó ngựa dồn dập hí vang và người kỵ mã chạy vô rất nhanh, hét to : “ Có lệnh của Đức Giáo Chủ Ông Trần văn Soái, Ông Nguyễn Giác Ngộ đâu?”. Tất cả mọi người chen nhau vây quanh người kỵ mã, cúi đầu tiếp lệnh của Đức Tôn Sư:


Ông Trần văn Soái, Ông Nguyễn Giác Ngộ,

Tôi vừa  hội hiệp với Bửu Vinh bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vinh suýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai chạy về báo cáo rằng tôi bị bắt hay là mưu sát thì các ông đừng tin và đừng náo động, cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hãy đóng quân y tại chổ,
sáng ngày tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.
Phải triệt để tuân lệnh.”

Ngày 16/4/1947, 9 giờ 15 đêm

Ký tên: HUỲNH PHÚ SỔ

Đây rõ ràng là bút tích của Đức Tôn Sư. Tất cả những quân dân, Tướng lãnh binh sĩ, những tín đồ của Ngài phải cúi đầu, tuân thủ mệnh lệnh của Ngài ... Nước mắt tuôn trào rơi trong oán hận, trong căm hờn.

Thế rồi  từ ngày 16 tháng 4 năm 1947 nhằm ngày 25 tháng 2 al nhuần năm Đinh hợi, Thầy tôi đã ra đi trong một đêm tối, trời sầu gầm thét, sấm sét lập lòe, gió căm hờn lên bão rít như tiễn bước Đức Tôn Sư. Và cũng từ ngày ấy  đất nước  tôi, súng vẫn nổ khắp trời quê hương mù mịt  khói đạn chiến tranh.

Bao nhiêu trai trẻ đã ra đi không hẹn ngày trở lại. Ý đạo dù có bàng bạc khắp làng quê thôn xóm, nhưng vẫn bị khỏa lấp bởi tiếng gầm thét của đạn bom.


Thế gian vốn nhiều đau khổ đêm đêm dưới những ngọn nến lung linh, hàng triệu tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vẫn nép mình trước bàn thông thiên cầu nguyện Mười Phương Chư Phật gia hộ cho quê hương tôi, cho đất nước tôi sớm ngừng thôi: đạn bay, bom nổ. Ngừng, thôi: xiềng xích thống trị ngoại lai, mà những tín đồ nào yêu Đạo vẫn tưởng nhớ đến Đấng Tôn Sư đang rừng ngăn núi cách, ngàn nẻo mù sương ...  Đức Tôn Sư đã phải lặng lẽ ra đi để: “Ta chịu khổ khổ cho bá tánh”, để đổi  lấy duyên nghiệp  xương máu trả vay của chúng sanh nhiều đời kiếp, nhưng vì vô minh nên nhóm người, nhóm đảng vô thần đã tạo ra một đất nước ngã nghiêng suốt thế kỷ qua đi.

Bảy mươi năm trôi nhanh, Đức Tôn Sư vẫn biền biệt, bảy mươi năm qua, toàn thể tín đồ của Ngài đêm đêm vẫn bùi ngùi trông ngóng, để  ước nguyện đến hội mây rồng, đời mạt hạ sẽ chấm dứt, Hội Long Hoa khai mở để dọn đường cho thờiThượng Ngươn Thánh Đức, an lạc, thái bình. Ngày đó là ngày khải hoàn để đón rước Đức Tôn sư. Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng đã từng mong mõi:


Lập rồi cái hội Long Hoa,
Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu?

(Sám Giảng Thi Văn, quyển 3)


Và như Ngài đã thấu triệt huyền cơ thời gian Thầy xa vắng tín đồ nên Ngài nói:


Thấy thiên cơ khó nỗi yên ngồi,
Thương lê thứ tới hồi khổ não.
Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,
Như vịt con dìu dắt nhờ gà.
(GMTK,tr 139)
 
Cũng như để cho thế gian đầy trầm luân khổ ải này, giờ thì chưa phân biệt ai chánh, ai tà, biết rằng :

Vì yêu dân ta kể ngọn ngành,
Khuyên lê thứ làm lành mà tránh.
Cảnh Niết bàn là nơi cứu cánh,
Về chốn ni xa lánh hông trần.
Dầu không siêu cũng đặng về Thần.
Nhờ hai chữ trung quân ái quốc.
Chừng lập hội biết ai còn mất,
Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.(GMTK,tr 135)


Đức Giáo Chủ cũng đã viết trong quyển 2 “Kệ Dân của người khùng”:


Xưa Tây Bá thất niên Dũ lý,
Huống chi ta sao khỏi tiếng đời.


Dù Tây Bá Hầu Cơ Xương xưa vẫn biết ra đi phải chịu tai nàn, bảy năm dũ lý nhưng Cơ Xương  vẫn đành cam chịu còn phận Ngài ?


Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc Tòa,

Đền Linh Khứu sơn trung chịu mạng.(GMTK,tr 135)

Với lòng ngưỡng mộ thiết tha đạo giáo, tôi lại càng suy nghĩ về cảnh Niết Bàn mà Đức Giáo Chủ đã cho rằng nơi đó mới chính là cứu cánh của mọi người rèn tâm tu niệm.

Trong một đoạn khác của Sấm Giảng quyển  4 “Giác Mê Tâm Kệ” Đức Giáo Chủ cũng đã cho biết :

Ta Khùng Điên của cải chẳng màng,
Miễn lê thứ được câu hạnh phúc .
Cờ thế giới ngày nay gần thúc,
Nên Phật Tiên phải xuống hồng trần.(GMTK,tr 132)


Vì thương chúng sanh muôn loài nên Thầy tôi đành rời xa cảnh thường trụ Niết Bàn để  cứu vớt chúng sanh nhiều đau khổ. Niết Bàn phải là cái đích tối cao, để con người qui y, là nơi an lạc cho từng cá nhân, nơi hiệp đồng trụ xứ cho toàn thể chúng sanh. Nên Đức Thầy nói có Niết Bàn. Như vậy Niết Bàn không phải là nghĩa tiêu cực, hư vô mà là nghĩa tích cực, chân thật, tức là đối với vô thường là thường trụ, đối với khổ là lạc, đối với ngã là chân ngã, đối với bất tịnh là thanh tịnh, đối với hư vọng là chân thật, đối với sai biệt là bình đẳng.

Tình thương của Đức Tôn Sư lớn rộng mênh mông hơn cả vũ trụ, lòng người sao dị biệt chia rẻ không biết yêu thương nên tiếp tục tạo ra bao cảnh thảm khóc tang thương cho nhau, tiếp diễn mãi và đã làm cho bao con tim thiết tha yêu đạo kính Thầy phải tái tê xót xa thương cảm.

Hôm nay đêm 25 tháng 2 âm lịch của 70 mùa xuân ảm đạm đi qua, là 70 lần kỷ niêm để luôn nhớ trời Ba Răng xưa ủ dột mây mù, hoa lá cũng phai úa rủ sầu.Vì đêm ấy và ngàn đêm sau, người Phật Giáo Hòa Hảo, hàng triệu tín đồ của Ngài, đang gục đầu trầm tư...  vững tin chờ đợi ngày trở về của Ngài, dù có nhiều cam go ngăn trở và  trên nẻo đạo đường đời chúng con vẫn luôn nhớ lời căn dặn của ĐứcTôn Sư:

Sống sanh ra phận râu mày,
Một đời một Đạo đến ngày chung thân.


Thầy ơi ! Chúng sanh đang mong đợi Ngài, chúng  con đang thiết tha mong đợi ngày trở về của Thầy trong nước mắt.


Lê Yến Dung

Ngày 25/2 Al năm Đinh Dậu 2017. 

 

blank

Đức Huỳnh Giáo Chủ đi Khuyến Nông tại các tình miền Tây giúp đồng bào miền Bắc năm 1945

 

blank

Đức Huỳnh Giáo Chủ



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.