Hôm nay,  

Lycée Petrus Ky 1954

16/04/201700:02:00(Xem: 7033)

Lycée Petrus Ky 1954

 

Nguyễn Văn Sâm

 

Vì theo gia đình di chuyển nhiều lần trong chiến cuộc, tôi học lớp Nhứt 4 (lớp 5) tại trường Tiểu học Trương Minh Ký niên khóa 1953-54 khi đã 13 tuổi. Trường tọa lạc ở góc đường Kitchener và Galliéni, nay là trường Nguyễn Thái Học cũng ở góc đó nhưng tên đường đã thay đổi:  Nguyễn Thái Học và Trần Hưng Đạo, Saigon.

 

Những ngày cuối năm, thầy Đại nói trong lớp vài ba lần: ‘Cả lớp nầy tao thấy không có đứa nào đậu vô trường Petrus Ký được hết, đứa nào đậu về đây tao thưởng, muốn gì được nấy!’ Là một trong ba đứa giỏi nhứt lớp lúc đó, nghe thầy nói thì nghe, không biết bạn bè cùng lớp thì sao, chứ tôi không có ý kiến gì. Ừ thi thì thi chứ biết làm gì khác hơn? Anh Thơm tôi đã đậu năm trước. Con đường đi đã sẵn thì phải đi thôi, cũng không biết là có trường nào khác dễ đậu hơn hay không vì nhà tôi chẳng có đàn ông để biết chuyện ngoài xã hội, bỏ thí hai anh em tôi cho trời đất, nghe ai xúi biểu gì thấy phải phải thì làm, may nhờ rủi chịu.

 

Khi có giấy báo danh tôi phải tự mình đi trước nhiều lần cho quen đường đề phòng trễ giờ ngày thi. Sáng sớm đi bộ từ nơi đương ở là cái quán nho nhỏ bán đồ bazaar của cô tôi ở góc đường Quai de Belgique (nay là Bến Chương Dương)  và Yersin, theo đường Yersin ra tới đường Galliéni. Năm đó có sự kiện đất nước bị chia hai và có sự người Bắc di cư vào Nam. Một số được cho tạm trú  tại trường Trương Minh Ký. Mặc dầu đi đâu, khi ngang trường cũ, ngó vô cảnh tượng nhộn nhịp, thế nào tôi cũng bước vô cửa nhìn ngó vì thấy những người mới tới lạ trong cách nói và giọng nói. Ngó chán thì thằng nhỏ  băng qua lộ đón xe autobus đi tới trạm Nancy xuống để quẹo mặt vô đường Nancy (nay là đường Nguyễn Văn Cừ) lội bộ tới trường.

 

Khoảng đường nầy, độ chừng hai cây số, với con trai tuổi 14 thì không xa lắm, đường rộng, hai bên đường có hàng cây dầu mát mẻ. Thỉnh thoảng có vài cái ao nho nhỏ. Có lần đi về trễ, mặt trời xuống thấp mau, tiếng ếch nhái hòa nhạc đã bắt đầu, khiến thằng bé bước dồn lẹ chưn hơn.

 

Nhớ là thi ba buổi: Luận văn, Câu hỏi thường thức và Toán. Mỗi môn có hệ số của nó, nhưng môn Toán có hệ số lớn nhứt.

 

Luận văn thì làm dễ dàng vì từ lúc biết chữ cho tới lúc đi thi tôi ngốn hết cả trăm quyển tiểu thuyết tiền chiến, Tự Lực Văn Đoàn và gần như thuộc lòng hầu hết các câu chuyện trong mấy bộ truyện Tàu của nhà xuất bản Tín Đức Thư Xã ở đường Sabourin (sau nầy là Tạ Thu Thâu) vì cái sạp của cô tôi có bán thơ truyện. Thêm nữa, trong khi học lớp Nhứt, tôi thuờng tới nhà thằng Trang mượn nhiều tiểu thuyết ở ngoài tiệm không có bán vì gia đình ba nó giàu, trước chiến tranh đã mua sách thẳng từ Hà Nội.

 

Câu hỏi thường thức và Sử ký Địa lý thì tôi trả lời theo cách của mình, viết câu văn của mình, theo lời thầy Đại dạy: ‘Tụi bây ráng học cho hiểu rồi theo đó mà viết, đừng học thuộc lòng mà trả lời theo sách. Giám khảo cả ngày đã chấm cả mấy trăm bài, chán tới bản họng nên cho điểm sàng sàng không lớn dầu mầy làm trúng một trăm phần trăm, gặp bài thằng nào viết đúng mà giọng văn riêng của nó thì hứng chí cho lớn điểm.’ Tôi cứ theo cái chỉ nam đó mà thực hiện, lại còn vẽ hình như đã làm trong các kỳ thi Lục Cá Nguyệt ở lớp mỗi khi bài cần hình vẽ con nầy con kia hoặc là hình dễ hơn nhưng có tính cách minh họa cho bài như hai cái thùng trong bình thông nhau, hay kiểu cất rượu để hơi rượu chạy qua lò so xoắn nhúng trong bồn nước lạnh…. Nhớ là hôm đó tôi có vẽ hình với sự hồi hộp giám khảo không coi đó là dấu hiệu để gian lận.

 

Bài Toán làm rồi kiểm tra ba bốn lần vẫn còn dư giờ, tôi ngồi ngó bâng quơ, liếc thấy thí sinh kế bên trả lời , nay kêu làđáp số, khác mình thì dò lại lần nữa, thấy mình đúng thì quyết định đưa bài cho giám thị với câu an ủi trong lòng. Nó trúng thì nó đậu, mình trúng thì mình đậu. Tuy nói vậy nhưng tôi tin tưởng là mình trúng vì đã dò đi dò lại nhiều lần, trước khi trao cho giám khảo còn đứng xớ rớ dò tới dò lui lần chót. Thường thì loại Toán miếng đất hình chữ nhựt bề dài… bề ngang… bốn góc có cắt ra bốn hình chữ nhựt nhỏ cho người khác. Còn lại thì rào, tiền rào mỗi thước là… Hỏi tốn bao nhiêu tiền hàng rào… Nếu cần thì thêm câu hỏi giá mua mỗi mét vuông là... thì tất cả phải mất bao nhiêu tiền. Kiểu nầy tôi vẽ hình ra cho lớn thì thấy rõ ràng. Một trong cái khó là phải làm toán nhơn với số lẻ, làm xong sau khi thử bằng số 9, còn phải làm lại lần nữa coi có giống không mới chắc ăn vì thử bằng số chín mau mà có thể sai.

 

Hơn sáu chục năm qua, không còn nhớ mấy bài thi tuyển năm đó thế nào, dầu sao cũng tương tợ như trong chương trình lớp Nhứt đã học.

 

Trường báo tin sẽ có kết quả ngày đó tháng đó, nhưng một tuần trước tôi nóng lòng đã đi tới trường cầu may coi có công bố kết quả chưa. Vậy mà đã có sớm. Thấy tên mình đậu thứ 119 trong số 400 học sinh được chọn, với sỉ số hơn bốn ngàn. Tôi mừng quá, khi xuống xe autobus thì chạy u liền về báo tin lung tung cho mọi người. Rồi cả tuần nầy mỗi ngày tôi đều lên trường coi cái bảng phong thần kia còn hay mất, sợ rằng người ta làm lộn gì đó, lấy vô sửa lại không có tên mình thì ‘chết cha’, hút gió không kêu. Thêm nữa, cũng sợ cái bảng đó không phải bảng kết quả.

 

May quá đâu vẫn còn đó. Chỉ có điều là nhiều tên có viết nguyên tử quẹt tới quẹt lui do ai đó thò viết vô lỗ lưới gạch dưới tên con em của mình.

 

Vậy mà tới ngày  chánh thức có kết quả, tôi cũng tới, chen lấn coi bảng như mọi người khác, cũng bị người lớn ép gần ngộp thở để vô cho được hàng trong cùng trình diện cái bảng. Nó nằm đó, giống y chang bao lần mình dò trước đây. Vậy là chắc ăn không còn lo sợ gì nữa.

 

Rồi cô tôi sắm cho quần Tây dài, giày sandale da do người thợ giày quen ngồi ở góc đường trước tiệm chụp hình Phong Lai gần cầu Ông Lãnh đóng theo ni chưn, dưới đế còn được tăng cường thêm miếng sắt, người thợ nói để cho gót da khỏi bị mòn. Giày mới đi nghe lộp bộp oai vệ như người lớn khi đi làm với nón nỉ, cặp da. Cô tôi nhắc đi hớt tóc. Cho tiền  mua cái đồng hồi cũ o lại của ông thợ sửa đồng hồ trước tiệm nước của chú ba tàu mập chuyên môn bận áo thun ba lỗ và quần xà lỏn lòi rún. Chưa tới ngày đi học nhưng được đeo đồng hồ lần đầu tiên tôi lâu lâu ngó xuống cườm tay mình ra điều hãnh diện.

 

Đi học trường nhỏ, học trò ăn bận lôi thôi… vô trường lớn, phải bận quần xanh áo trắng bỏ vô quần, chúng tôi thấy mình đã lớn. Lại còn có phù hiệu bằng sắt, lúc đó kêu là ensigne, đeo lên túi áo, tưởng chừng như con gái cùng lứa thế nào cũng ngó trầm trồ.

 

Tôi được xếp vô lớp Đệ Thất G, trong đó có trò Nguyễn Tuấn Anh đậu vô hạng nhứt. Nghe nói anh ta đậu hạng nhứt tôi nể quá, chắc là mình không theo kịp, phải cố gắng tối đa.  Học chung với nhiều bạn rất dễ mến như Châu Thành Tích, anh nầy học có một năm thôi, vậy mà sau nầy lớn lên gặp nhau ở CA, qua phôn, hai đứa nói chuyện xưa mệt nghỉ. Thằng Khâm rất dễ mến vì nói năng nhỏ nhẹ trong khi nó lớn con đen bóng vì tập tạ và chơi đá banh cả năm trước. Sau nầy Khâm làm thầy giáo, bị động viên sau Tết Mậu Thân rồi mất không lâu sau đó. Thằng Quách Văn Thành ngồi kế bên 2 năm liền, đã có vẻ người lớn trong khi đa phần chúng tôi còn tánh tình con nít. Tiếc là ra đời chỉ gặp lại có một lần ở tỉnh lẻ miền Tây rồi không bao giờ gặp lại nữa. Còn nhiều đứa nữa: Trí bớt, hiện ở CA, Trí Đinh làm luật sư ở Sàigòn, Lễ cây xăng sau nầy phát nguyện tu hành, Nam cao, Mẫn chị Hai, Hàn Minh Đức, Lê Cảnh Tuệ tất cả sau nầy cũng đều thành đạt, ra đời có chức vị nhưng không bị tai tiếng gì…… Sang năm thứ hai, lớp Đệ Lục G thì có đứa bạn, thằng Mai T. Tr., cái tên lạ lùng mà dễ nhớ, đã cùng học chung lớp ở trường Trương Minh Ký được tuyển vô lớp Đệ Lục. Bạn bè trước ở trường nhỏ, gặp nhau ở trường mới thiệt là hạnh ngộ. Chúng tôi gắn bó từ đó. Ra đời cùng làm nghề giáo ở Sàigòn, liên hệ với nhau thường, qua Mỹ gặp nhau lại, giao tình như ngày cũ.

 

Năm học bắt đầu với những vị thầy mà chức vụ kêu là Giáo Sư, mỗi Giáo Sư phụ trách một hay hai môn, tới giờ thì đi tới lớp mình phụ trách. Học trò thì ở nguyên trong lớp đợi sẵn. Điều nầy rất lạ đối với học trò  Tiểu học mới lên như tôi. Còn nhớ Anh Văn thầy Nguyễn Văn Thái cao, ốm đen, răng hô, nói nhiều, bắt học trò phiên âm quốc tế mệt nghỉ, nhờ vậy mà sau nầy tôi phiên âm quốc tế rất chì. Một lần tôi gặp ái nữ của thầy đang sanh sống ở Orange County, cũng mừng! Sử Địa Bà Dung mặt thiệt nghiêm, không thấy cười bao giờ, học trò sợ xanh mặt khi bà đưa cây viết trên cuốn sổ điểm danh rà rà kêu tên, đứa nào chỉ con sông từ cửa biển vô là lãnh trứng vịt lộn, nghe đâu sau nầy bà định cư ở Canada và qua đời bên đấy. Cô Sâm trẻ trung, vui tánh, dạy Việt Văn, học trò đứa nào cũng thích. Sau nầy khi ở Mỹ về, tôi thường ghé thăm cô, rất đau lòng khi thấy người cô thần tượng của mình, cuối đời bệnh hoạn. Toán Giáo Sư Nguyễn Thạch dạy năm đó rồi năm sau ra làm huấn luyện viên Thể Dục, Vạn Vật Giáo Sư Trần Huệ, người thầy hiền mà sau nầy trên đường đời tôi có duyên được gặp trong nhiều giai đoạn. Nhận xét là các Giáo Sư đều dạy tận tâm, nếu có khắt khe là vì tương lai và lợi ích của học sinh chớ không vì gì khác.

 

Năm đó, tôi bày đặt mua báo Ciné Monde và Ciné Revue để coi hình tài tử thì ít mà dò coi có cô đầm trẻ nào thì viết thơ chơi correspondent. Cuối cùng cũng liên lạc được 2 cô trong 2, 3 năm gì đó, tới giờ già đầu rồi mà vẫn còn nhớ tên các nàng tuy rằng quên tuột tỉnh thành của họ. Lần nào thầy giám thị Phấn đi xuống, tay chấp sau đít có cầm cái bao thơ thì tôi run run vì mừng biết rằng mình sẽ có thơ từ tuốt bên trời Tây xa lắc lơ. Thầy Phấn lần nào đưa thơ cũng nói: ‘Học không lo học, thơ với từ.’ Mười hai năm sau, khi về dạy lại ở trường cũ, tôi chào kính các thầy cô xưa của mình, khi nhắc với thầy Phấn về chuyện thơ từ của mình thì thầy cười: ‘Nhớ chứ sao không nhớ, lúc đó Giáo Sư là một trong hai ba học sinh có thơ từ bên Pháp qua thường xuyên.’ Ôi thời trẻ sao mà ngông nghênh, dám đưa tay lên tính ngắt sao trời! Nói theo bây giờ: Yếu mà đòi ra gió!

 

Năm đó 1955, tháng ba, có trận đụng độ giữa quân đội của chánh phủ và quân đội Bình Xuyên.  Một đơn vị Bình Xuyên có tên là Công An Xung Phong đóng trong trường từ lâu. Một đơn vị Nùng tấn công để đuổi họđi. Chúng tôi học trò các lớp nhỏđương giờ học thì súng nổ lốp bốp điếc tai. Đứa nào đứa nầy sợ xanh mặt nhưng vẫn ngồi yên chờ sự chỉ dẫn của Giáo sưđương dạy. Chúng tôi đương học giờ Pháp Văn với thầy Phạm Văn Thới. Thầy từ tốn ra lịnh cho tất cả nằm xuống đất. Tất cả lẹ làng làm y theo nhưng đứa nào cũng lén liếc lên coi thầy làm gì. Thầy Thới ung dung đi qua đi lại trong phòng, hút thuốc, thỉnh thoảng bước ra ngoài hành lang nghe ngóng khi súng đã êm êm trước khi dứt hẳn.

 

Chúng tôi chưa từng nghe tiếng súng quá gần, đứa nào cũng phục thầy. Thầy bình tĩnh, giữ lớp thiệt kỷ luật, không có đứa nào chạy lộn xộn, không đứa nào khóc la. Thầy luôn miệng trấn an: ‘Mấy toi nằm xuống là đạn không trúng đâu, có lính vô đây moi sẽ đuổi họ ra.’ Mà hình như lớp nào cũng vậy, êm re, không nhốn nháo dầu chưa thực tập để biết phải làm sao trong tình huống nầy.

 

Vậy mà ban Giám Đốc trường đã làm nhiệm vụ mình tuyệt vời. Ông Hiệu Trưởng Phạm Văn Còn yêu cầu viên Đại Úy có trách nhiệm tấn công lúc đó ngừng bắn để cho tất cả học sinh ra về.  Chúng tôi lục đục ra lấy xe đạp về, vẫn là theo kỷ luật như mọi ngày chớ không chạy giành trước giành sau chen lấn gì hết.

 

Hôm sau đi học lại, tôi còn nhớ một xác chết đầy máu nằm trên hành lang bên tay trái, học trò đứa nào đi ngang cũng né. Và tượng ông Petrus Ký bị một viên đạn bắn vô má bên tay mặt, chúng tôi sau nầy thường nhắc lại với nhau với vẻ buồn buồn: ‘Chiến tranh cho ông học giả của chúng mình một đồng tiền trên má!’

 

Năm đầu tiên Trung Học, tôi có nhiều ấn tượng tốt với sự ngưỡng mộ các Giáo sư của mình, hỏi các bạn trong các lớp khác cũng có cảm tưởng y chang như vậy. Quí thầy chăm lo việc học của chúng tôi và tạo được tình thương cũng như sự kính nể của học trò. Hơn sáu mươi năm qua, bạn bè thất lạc, mất còn, quí thầy cũng đi về miền miên viễn hầu hết, nhưng hình ảnh trong tâm trí tôi, và chắc chắn các bạn khác, cũng vậy, không phai.

 

Tại sao vậy? Tôi nghĩ đó là truyền thống lâu đời của ngôi trường danh tiếng, ngôi trường đến nay đã ngót nghét một thế kỷ, đào tạo được nhiều người tài nặng lòng giúp nước thương dân.  Mà cũng nhờ truyền thống tương quan thầy trò ngày xưa. Một tương quan bên nầy thương, bên kia kính mà ngày nay hình như đương bị xói mòn.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.