Hôm nay,  

Anh Bộ Đội

28/04/201715:11:00(Xem: 9090)

blank


Anh Bộ Đội

 Trần Thi

Sau tháng Tư 1975, chính quyền “cách mạng" hay đặt tên các phương tiện giao thông vận tải xuyên Việt với hai chữ Thống Nhất đi kèm. Chẳng hạn như tuyến đường sắt Thống Nhất, rồi từ đoàn tàu (hỏa) Thống Nhất, đến tàu (thủy) Thống Nhất…     


Thời đó, "phó thường dân Nam bộ" hiểu hai chữ “Thống Nhất” này một cách rất "giản đơn:" Từ ngoài Bắc, người thì đua nhau kéo vào Nam; Còn từ trong Nam, hàng thì lũ lượt chở ra Bắc.


Có lần vào cảng Sài Gòn để tiễn người cậu về Bắc, Hùng thấy con tàu Thống Nhất khệ nệ chồng chất đủ mọi thứ "phồn vinh giả tạo" để đem về đất Bắc hà. Khi đó, Bắc hà là một xứ sở mà trong Nam có ai hỏi đến thì đều được trả lời là "ngoài ấy cái gì cũng có." Nhưng thực sự thì trong Nam "có cái gì," "ngoài ấy" đều muốn lấy hết cả.


Đứng cùng người cậu chờ kiểm soát trước khi lên tàu, Hùng thấy có anh bộ đội đẩy đến một chiếc Honda định đưa lên tàu. Nhân viên kiểm soát ngăn lại, yêu cầu hút hết xăng trong xe ra để tránh hỏa hoạn rồi mới cho lên.


Để xe ở đó, anh bộ đội thoăn thoắt quay ra ngoài.  Chỉ tí xíu sau đã thấy anh trở lại với chiếc xe khác mới mượn được, rất giống như xe của anh.  Rất nhanh nhẹn, anh bộ đội lấy ra một ống cao su và đưa lên miệng hút xăng từ xe anh rồi cắm ống hút vào bình xăng của xe bên cạnh mới đem đến để chuyển xăng qua.


Được một lúc, khi xăng ngưng không còn chạy qua ống hút, anh bộ đội kiểm soát lại thì thấy xăng vẫn còn nhiều trong xe. Anh bộ đội lại đưa ống lên miệng, hút xăng mạnh hơn và cắm ống hút vào bình xăng xe bên cạnh. Làm như vậy vài lần, mà cũng thấy xăng vẫn còn hoài trong xe.  Xem ra anh bộ đội đã hơi "nóng máy.”


Trên cổ áo của anh bộ đội, thấy đeo toàn là sao, mà Hùng không biết là cấp bậc gì. Nhưng qua dáng vẻ cao ngạo hãnh tiến, Hùng đoán anh bộ đội chắc phải là cấp chỉ huy.  Tò mò khẽ hỏi người cậu, thì Hùng được biết anh bộ đội là Trung Úy.


Cứ hút xăng như vậy mấy lần, anh bộ đội đã toát mồ hôi, nhưng xăng trong xe anh vẫn "kiên cường bám trụ” không chịu đi ra hết.  Nhìn anh Trung Úy vật lộn với hai bình xăng, Hùng đoán anh không biết đến nguyên lý bình thông nhau mà, ở miền Nam, Hùng được học khái niệm vào năm cuối bậc tiểu học: Khi chất lỏng được lưu chuyển giữa hai bình thông nhau, thì sau khi đã ổn định, chất lỏng trong hai bình sẽ ở cùng một mực ngang nhau. Vì thế chẳng bao giờ mà xăng từ xe anh bộ đội lại có thể chạy hết sang xe bên cạnh một khi hai chiếc xe có cùng chiều cao và đứng cùng trên một mặt phẳng.


Trông anh Trung Úy cứ muốn "khắc phục" chuyện hút xăng theo kiểu "với sức người, sỏi đá cũng thành cơm," người cậu của Hùng cũng ngượng. Ông lên tiếng:  “Này đồng chí ơi, đồng chí làm như thế không được đâu....”


Ông chưa kịp nói hết, thì anh bộ đội Trung Úy đã cởi phăng chiếc áo đang mặc và nằm xuống phía dưới xe bên cạnh để xem xét. Chắc anh bộ đội nghĩ là chiếc xe này có motor của phản động "cài đặt" ở đâu đó để "chống phá cách mạng," không để anh "hoàn thành xong nhiệm vụ" hút xăng ra khỏi bình. Thế! Cho nên cần phải "triệt hạ" cái motor "phản động" này ngay.  


Vừa ngả người nằm xuống xem xét máy, anh bộ đội vừa trả lời trống không: “Được chứ sao lại không? Đế quốc Mỹ nó mạnh như thế đấy, mà ‘đây’ còn đánh cho chúng nó tan tác chạy không kịp, nữa là chiếc xe này...” Hình như cũng là người lớn lên tại tỉnh thành, cho nên anh bộ đội không phát âm là "chiếc xe ‘lày’."


Người cậu của Hùng, cũng là đảng viên, nhưng nghe anh bộ đội Trung Úy nói như thế, và dù có bẽ mặt, nhưng ông cũng chưa muốn "tan tác" như đế quốc Mỹ, cho nên đành giã biệt Hùng và lẳng lặng đi lên tàu Thống Nhất quay về lại xứ Bắc hà.


Vừa có thành tích đánh Mỹ, lại vừa thấu triệt được tinh túy của câu thơ để đời "với sức người, sỏi đá cũng thành cơm" của Tố Hữu, một đại thi hào của nền thi ca xã hội chủ nghĩa, thì anh bộ đội Trung Úy đúng thật là văn võ song toàn.  Cộng thêm với khí thế hung hăng ngất trời “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng,” nghe nổ to còn hơn pháo đùng, thì anh bộ đội chắc chắn sẽ thăng tiến rất nhanh trong binh nghiệp.


Mấy mươi năm trước, anh bộ đội hút xăng đã mang quân hàm Trung Úy.  Đến năm 2017 này, anh bộ đội Trung Úy hẳn đã trở thành Ông Bộ Đội Trung Tướng hay ngay cả Đại Tướng.  


Ai biết được là Ông Bộ Đội đó lại không đang nắm giữ chức vụ lãnh đạo to kềnh trong Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay?

 Trần Thi – 4/2017


NOTE: Tác giả Trần Thi là cộng tác viên của đặc san Lâm Viên online tại www.dslamvien.com  

 


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.