Hôm nay,  

Biệt Ly

17/05/201713:14:00(Xem: 10372)
Biệt Ly
(để nhớ anh Nguyễn Đình Phú vừa đi xa, không trở về!)
 
Cao Đắc Vinh
  

Biệt ly… giây phút ngắn ngủi nhưng âm hưởng lại trĩu nặng cả một đời.

Bài “Biệt Ly” (1939) của Doãn Mẫn sáng tác trên sân ga Hàng Cỏ (Hà Nội) khi tác giả thấy những cặp tình nhân ngậm ngùi tiễn chân nhau lên đường tòng quân. Đi lính trận, có người lỡ hẹn mà cũng có kẻ vinh quang trở về… Tôi xem đây chỉ là cảnh tạm biệt chia tay.

Biệt ly thường diễn tả một tình huống xót xa hơn nhiều ví như vĩnh viễn chia lìa, đôi người đôi ngả. Biệt ly là hai thế giới cách ly đồng nghĩa với sự chết… ra đi không trở về!

Biệt ly tiếp diễn trong đời tôi nhiều lần kể từ mấy thập niên đến nay. Sinh ra sau thế chiến, tuổi đã trên 70, thuộc thế hệ “baby boomers” nên tôi đành ngậm ngùi chứng kiến người thân, bố mẹ, anh em, bạn bè… lần lượt ra đi.
 

Cảnh biệt ly gần nhất với tôi là ngày 25 tháng 4, 2017 giờ Dần canh 5, người anh cọc chèo thân thiết đã ra đi sau 2 năm chống chỏi với bệnh tật. Cùng làm rể trong một gia đình, anh ấy lấy chị, tôi lấy em. Tình cảm hiền hòa giữa chúng tôi nảy nở như đôi bạn nên thầm hiểu rằng mình vừa mất một đối tượng tâm giao tri kỷ luôn mang đến những giờ phút vui đùa hay bàn bạc về khoa học và cuộc sống.

Tôi đến thăm anh đêm cuối cùng… Anh nằm bất động, mắt nhắm như đang ngủ giữa căn phòng ấm cúng bỗng đượm màu tang tóc thê lương. Có lúc tiếng thời gian ngừng trôi vì chỉ nghe nhịp thở của anh nặng nề kéo lên từng hồi. Chúng tôi thay phiên nói lời từ biệt. Nước mắt chảy vòng quanh, con cháu đứa cầm tay vuốt ve, đứa ôm chân xoa bóp, sụt sùi trăng trối lời yêu thương vội vàng lần cuối. Giữa khoảnh khắc sinh tử “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, có một người sức tàn lực kiệt mà vẫn đơn côi chống lại định mệnh an bài… Đó là chị tôi!

 

Chị chưa tuyệt vọng nên chưa bỏ cuộc… cho dù 2 năm ròng rã từng tháng, từng ngày, từng đêm, từng giờ lo cho chồng chữa bệnh và sinh sống. Nửa đêm về sáng, bao lần chị thức giấc chỉ để trở mình cho anh khuây khỏa. Một tình yêu vô bờ bến hiếm có ở thời đại văn minh mới.

Khuôn mặt chị lúc nào cũng đăm chiêu, ít nói, biếng cười, đôi mắt đỏ hoe… Khi ở bên anh, chị thổn thức những lời yêu thương, cố vực chồng thức dậy, ra khỏi hôn mê để dành lại sự sống làm cả gia đình chột dạ. Tôi tiến đến gần chị vỗ về… hình dung một nỗi buồn mãnh liệt đang âm ỉ chờ dịp bung ra. Thân đứng đó nhưng hồn chị ở đâu? Chị khóc! Trái tim vùi dập, co thắt bất thường vì ý thức cảnh cô đơn góa bụa đang đợi chờ.
 

Biệt ly… nghìn trùng xa cách!  Biệt ly… giây phút ngắn ngủi nhưng âm hưởng từ nay lại trĩu nặng cả một đời vì mối tình này trên cả tuyệt vời! Tại sao thế? Năm 1970, xem phim “Love Story” tôi thích lời tỏ tình của Jenny Cavilleri “Love means never having to say you’re sorry” nhưng nói thì dễ, mấy ai đã làm được? Vậy mà chính mắt tôi vừa chứng kiến một người sống cho tình yêu trọn vẹn đúng ý nghĩa với câu trích dẫn đó.

Qua chuyện tình hy sinh và chung thủy này, tôi lạc quan hơn về dây tơ hồng Nguyệt lão linh thiêng kết duyên vợ chồng. Cảm ơn chị đã tô điểm nét đẹp muôn màu của mối tình trăm năm tưởng chỉ thấy trong văn chương mà có thật ở ngoài đời. Vâng! Đã yêu một người tất có hy sinh và phải chấp nhận biệt ly… một lần trong đời.
 

Biệt ly... “nhớ nhung từ đây” (nhạc D Mẫn) khi con tàu đời ghé bến, bỏ trên sân ga một người đứng bơ vơ khóc một người vừa nằm xuống. Biệt ly... “đoạn trường ai có qua cầu mới hay” (Kiều) nếu cơn mưa chưa qua thì trời vẫn chưa sáng, lòng người nặng trĩu đau thương nhưng rồi sớm muộn gì con tàu đời cũng sẽ hụ còi lăn bánh và có mang theo người thân bơ vơ ấy tiếp tục cuộc hành trình hay không hẳn còn tùy vào nỗi buồn biệt ly ít nhiều… phôi pha!

05/17/2017

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.