Hôm nay,  

Con đường Mặc Lâm

01/06/201711:34:00(Xem: 11597)

Con đường Mặc Lâm
 

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

  

Chúng ta đang sống trong thời đại khai phóng của thông tin đa chiều, của toàn cầu hoá, và của những cuộc thám hiểm đi tìm miền đất di dân mới trên Hỏa tinh. Ở một thời đại như thế, những con đường mòn trên mặt đất tưởng chừng sẽ mang lấy kiếp huyền thoại, một hình bóng xa xôi.

 

Nhưng không hẳn như vậy. Trong đời sống hằng ngày, những con đường mòn của cõi người vẫn là điểm nối của những sinh hoạt muôn thưở, dắt người ta đi về giữa muôn trùng hợp tan, sinh tử. Và con đường vẫn là biểu tượng của những hành trình bất biến trong kiếp nhân sinh, một tín hiệu cốt lõi trong sự hiện hữu của loài người.

 

Trong tuyển tập đa dạng “Bàng Bạc Gấm Hoa,” tác giả Mặc Lâm vạch ra một con đường mòn tưởng thân quen, mà lại khai phóng, tưởng gần gũi, mà thật vời vợi. Một con đường của cõi văn hoá, sáng tạo Việt Nam. Con đường mang tên Mặc Lâm. Con đường Mặc Lâm gửi đi những tín hiệu từ tiềm thức, bung những thước lụa sáng tạo, tủa đi những biểu đạt tim óc. Con đường ấy chỉ là khởi điểm, hướng độc giả đến những vùng trời văn hóa Việt Nam miên trường từ muôn thưở.
blank

 Nhà báo Mặc Lâm

Con đường Mặc Lâm khởi đi từ quá khứ, đẩy lối về tương lai. Con đường ấy bước song song cùng những hành trình sáng tạo của dân tộc và của một số người làm sáng tạo. Những hành trình ngan ngát hương da Vàng, toả về phía trước. Chính bản thân tác giả, qua công việc truyền thông, cũng đi nhiều nơi, nên cái nhìn của ông cũng phản ánh những cọ xát văn hoá ông cảm nhận trên hành trình đa tuyến của mình. Nhận thức của ông, do đó, được sắc bén, tinh tế, mẫn cảm, bao dung.

 

Đi hết con đường Mặc Lâm trong tuyển tập này, người đọc sẽ về đến một miền của Việt Nam gấm hoa - một Việt Nam mà tác giả đã yêu, đã trân trọng ôm ấp, đã tin tưởng phó trao qua từng câu từng ý trong mỗi bài viết. Và từ con đường ngút ngàn tư tưởng và nhận thức ấy, người đọc mặc nhiên đi lạc vào thiền giới, lạc vào rừng cây trầm mặc, sẽ nghe được thinh không, thấy được hình tướng của gió, và chạm tới cõi vô hình.

 

Một khi đã đồng hành với tác giả qua 40 bài viết, người đọc được cuốn trôi vào vũ trụ bao la của văn hoá, sáng tạo, nghệ thuật - một vũ trụ được phác hoạ bằng thư pháp. Tác-giả-Ông-đồ đã chọn những đường nét tiêu biểu để diễn đạt những đề tài phức tạp. Ông đã vận khí để mỗi nét vẽ truyền đi sóng âm, thành những cái dùi, đánh vào trống lòng người đọc. Ông đã vận tâm đưa trí huệ vào độ đậm nhạt, để mỗi nét mực toát lên sự hoà hợp chuẩn mực trong bàn tay một ông đồ khéo tay và khó tính. Chính những nét mực mỏng cho thấy bản lĩnh và tài hoa của người vung cọ.

 
blankBìa sách 'Bàng Bạc Gấm Hoa'

Bốn chương trong tuyển tập này là sự phân chia uyển chuyển cho những hành trình sáng tạo linh động. Người đọc không bắt buộc phải theo từng chương, đi gặp “Tác giả, tác phẩm,” rồi lội ngược dòng tìm về cội nguồn “Văn hoá dân gian,” trước khi đắm mình vào biển “Sắc màu cuộc sống” và “Nét đẹp Việt Nam.” Mỗi cuốn sách đều cần một cấu trúc nhất định nào đó. Tác giả đã ‘tuân thủ' luật này. Theo tôi, các bài viết trong tuyển tập có thể được đọc theo sự sắp xếp của tác giả, và cũng có thể được đọc đan xuyên nhau. Văn hoá, sáng tạo, nghệ thuật là những phạm trù không có biên giới. “Bàng bạc.” Điều này được thể hiện rõ trong tuyển tập, không chỉ qua nội dung, mà từ cách thực hiện. Mỗi bài viết là một hành trình sáng tạo với hai lộ trình song song: con đường sáng tạo thứ nhất là từ văn hoá Việt Nam hay của một văn nghệ sĩ; và con đường sáng tạo thứ hai là của tác giả Mặc Lâm. Như những dòng tơ lụa, dệt nên “Gấm hoa.” Tất cả những con đường trong tuyển tập này đều đi về một miền: Việt Nam; cùng chảy thành một dòng: gấm hoa. Chữ ‘bàng bạc' gợi lên nhiều ý nghĩa. Bàng bạc, như ánh sáng nhẹ nhàng lan toả, một thứ ánh sáng dịu và thanh, vừa cho người ta thấy đủ cái đẹp, vừa bắt người ta nhìn kỹ hơn cái lung linh huyền ảo. Bàng bạc, như một hình ảnh xa xôi, trong thao thức, trong tâm tưởng. Như cái bàng bạc của ‘áo ai trắng quá nhìn không ra' (Hàn Mặc Tử), của ký ức, tâm thức, tiềm thức. Bàng bạc. Vì ở thế kỷ 21, kỹ thuật truyền thông đã đưa con đường Mặc Lâm đi khắp nẻo thế giới, qua chương trình Văn Học Nghệ Thuật của Đài Á Châu Tự Do trong gần 10 năm qua.  Bàng bạc. Vì con đường ấy đi từ Việt Nam ra thế giới, từ hải ngoại về lại Việt Nam.

 blankThiệp mời ra mắt sách

Gấm hoa óng ánh trời xa, bàng bạc chốn người. Những thế hệ ngoại biên sinh trưởng ở ngoài Việt Nam – những thế hệ có những quê hương dọc dài khắp thế giới, cũng như những thế hệ trẻ trong nước, sẽ cám ơn tác giả đã chỉ cho họ một trong những con đường gấm hoa đi vào văn hoá Việt Nam. Và con đường này chỉ mới là sự bắt đầu. Bởi vì, văn hoá là một sự biến đổi không ngừng, được tái thể hiện và tái định nghĩa với những hình thức diễn đạt mới, những tư duy mới, những nhận thức mới đến từ chính kinh nghiệm sống và sự kết hợp với tư tưởng đương đại.

 

Do đó, cái tựa “Bàng Bạc Gấm Hoa" là một chọn lựa thật thích hợp, vì nó giúp ta liên tưởng đến một quá trình nối dài của con đường văn hoá Việt Nam, không bị giới hạn bởi hôm qua, hôm nay, hay ngày mai, mà nối dài vô tận, được sàng lọc, tô tỉa, gọt dũa qua từng thế hệ, từng giai đoạn lịch sử, từng miền đất quê hương. ‘Gấm Hoa’ trong tuyển tập này là một mảng văn hoá Việt Nam, được dệt nên từ những nét thêu đường chỉ khác nhau, hợp thành một tổng thể linh động, uyển chuyển, gõ nhịp lên mỗi chiều kích của trái tim khối óc người đọc qua từng đề tài riêng biệt mà chảy ‘Bàng Bạc’ trong dòng tâm thức da Vàng.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.