Hôm nay,  

Tản Mạn 30-4

03/06/201710:51:00(Xem: 7035)
TẢN MẠN 30-4
 
Kỷ Nguyên Nguyễn Văn Tâm

  
Cứ đến ngày 30 tháng 4 mỗi năm cộng đồng người Việt trên thế giới xôn xao, ồn ào, bận rộn mỗi người một tâm tư riêng nhớ về ngày 30 tháng 4 cách nay 42 năm.

42 năm đã qua nhưng vết thương của người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại cũng như trong nước vẫn còn rỉ máu. Vết thương vẫn chưa lành. Giấc mơ trở về với quê hương nơi chôn rao cắt rốn đất đai của tổ tiên và mong muốn nhìn thấy một đất nước tự do, dân chủ, nhân quyền và giàu mạnh mà thời VNCH đang trên đà đi tới vẫn âm ỉ trong mọi người Việt tị nạn cộng sản.
 

Giấc mơ trở về quê hương Việt Nam tự do, dân chủ, nhân quyền và giàu mạnh dường như bùng lên mạnh mẽ và ồn ào và tích cực ở cao điểm của những ngày 30-4. Rồi những ngày sau đó giấc mơ này bị chìm đi trong quên lãng khi mọi người Việt tị nạn cộng sản phải va chạm với thực tế cuộc sống hằng ngày với những thử thách gay go trong xã hội đa dạng và phức tạp. Giấc mơ trở về quê hương đã phải tạm nhường lại cho những sinh hoạt vì cuộc sống trước mắt của gia đình, lo tương lai cho con cái v…v và chỉ khi có thời giờ rảnh thì giấc mơ đó mới hiện về.  Rồi cuộc sống quay cuồng lại cuốn hút giấc mơ đó đi. Chu kỳ này được lập đi lập lại gần 42 năm nay rồi.
 

Liệu rằng giấc mơ này còn kéo dài trong bao lâu để trở thành hiện thực hoặc phải bị đi vào quên lãng khi thế hệ đầu tiên với những kinh nghiệm đau thương của chiến tranh và với cộng sản phải ra đi vì tuổi tác và bịnh tật để nhường lại cho thế hệ thứ hai, thứ ba v..v.?

Hai thế hệ này có được vun trồng, nuôi dưỡng để tiếp tục theo đuổi giấc mơ như người Do Thái sau gần 2000 năm họ đã thực hiện được giấc mơ trở về quê hương trong vinh quang và hùng mạnh như ngày nay hay không ?
 

Hay với một khoảng trống thế hệ sẽ làm gián đoạn giấc mơ trở về quê hương của người Việt tị nạn chúng ta?

Trải qua gần 2000 năm, ngươì Do Thái qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau theo đuổi giấc mơ hồi hương của họ thành công. Liệu người Việt tị nạn cộng sản chúng ta có học được bài học của người Do Thái theo đuổi giấc mơ trở về quê hương Việt Nam yêu dấu trong tự do, dân chủ, nhân quyền và giàu mạnh hay không ?

Chúng ta đã chờ đợi thực hiện giấc mơ này đã 42 năm rồi. Thời gian còn chờ đến bao lâu nữa?
 

Những người chủ quan khi nhận định về tình hình chính trị của nước Việt Nam ngày nay cùng với sự suy thoái của đảng cộng sản VN qua những biến cố chính trị nóng bỏng gần đây cho thấy sức mạnh của nhân dân không còn sợ cộng sản nữa  như vụ Đồng Tâm hoặc vụ Hà Tĩnh Formosa hay vụ Phật Giáo Hoà Hảo v…v. thì cho rằng thời gian đã chín mùi sẽ xảy ra rất gần đây thôi.

Một câu trả lời khác cho rằng thời gian không mau lắm nhưng không lâu như Do Thái họ dựa vào lý do bạo lực của đảng cộng sản vẫn còn gieo rắc sợ hãi, hoang mang nghi ngờ khiến cho người dân thờ ơ với chính trị đấu tranh chống lại cộng sản.

Dù thời gian có dài hay ngắn, lâu hay mau tất cả tùy thuộc vào lòng quyết tâm, kiên trì và sự bền bỉ và có định hướng của mọi người Việt tị nạn cộng sản. Yếu tố con người và sự nối tiếp của thế hệ là bài học chúng ta có thể học được từ người Do Thái.

Người Do Thái có sức mạnh dựa vào Do Thái Giáo của họ như một nền tảng và là chất keo nối kết người Do Thái với nhau và từ thế hệ này qua thế hệ khác.
 

Người Việt Nam thì hãnh diện và tự hào có một lịch sử oai hùng dựng nước và giữ nước từ hơn 4,000 năm qua từ thời Vua Hùng Vương.

Hai dân tộc có một sự tương đồng. Người Do Thái bị trục xuất ra khỏi xứ bôn ba, trốn tránh khắp nơi trên thế giới. Người Việt tị nạn cộng sản bị bức tử bỏ nước ra đi lưu lạc khắp bốn phương trời

Chính vết thương còn rỉ máu của ngày Quốc Hận 30-4 sẽ là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy người Việt tị nạn cộng sản phải vùng lên quyết lấy lại đất nước bị cướp bởi đảng sộng sản VN, thực hiện được giấc mơ của mình.
 

Thề hệ thứ nhứt của người Việt tị nạn cộng sản đã và liên tục đang đấu tranh, vận động thế giới để giải thể đảng cộng sản Việt Nam rất là tích cực. Nhưng xuyên qua thời gian 42 năm qua sức lực của thế hệ thứ nhứt hao mòn nhiều và đang đi dần vào chổ hụt hẫng tạo ra một khoảng trống thế hệ. Khoảng trống của sự mối tiếp giấc mơ tìm về quê hương.

Nếu khoảng trống này không được lấp lại, nếu khoảng trống này tiếp tục rộng lớn hơn khoảng cách thế hệ sẽ xa cách nhau nhiều hơn thì giấc mơ hồi hương của người Việt tị nạn cộng sản chúng ta có thể bị tiêu tan đi.

Trách nhiệm thuộc về ai? Trách nhiệm thuộc về mọi người Việt tị nạn cộng sản chúng ta đang sống lưu vong rải rác trên toàn thế giới và trong nước: thế hệ thứ nhứt, thế hệ thứ hai, thứ ba v…v
 

Người Do Thái từ 2000 năm trước khi bị tống xuất ra khỏi nước phân tán mọi nơi trên thế giới đều cùng nhau tự nhủ rằng phải có ngày về dựng lại nước Do Thái cho nên khi tị nạn tạm cư tại các nơi trên thế giới đều ấp ủ nuôi giấc mơ trở về quê hương Do Thái. Họ dốc lòng hướng về quê hương. Trong khi chờ đợi ngày trở về quê hương họ ra sức tạo dựng những cộng đồng người Do Thái khắp nơi thành một khối đồng nhứt với cùng một giấc mơ trở về quê hương. Họ cùng nhau học tập rèn luyện ý chí quật cường và nổi đau mất nước. Họ luôn trang bị cho những thế hệ nối tiếp giấc mơ trở về quê hương qua những định chế giáo dục văn hoá, tôn giáo tại những nơi họ đang sống tạm dung. Họ làm bất cứ cái gì tạo thành sức mạnh cho cộng đồng của họ và ảnh hưởng đến nước họ đang tạm dung để cũng cố sức mạnh đó theo đuôỉ giấc mơ trở về quê hương. Từng ngưởi, từng gia đình, từng cộng đồng quyết tâm  theo đuổi giấc mơ đó. Những thành công từ cá nhân, từ gia đình và cộng đồng các nơi hợp lại tạo thành một sức mạnh ảnh hưởng đến các nước tạm dung ủng hộ để sau cùng họ trở về được quê hương của họ trong vinh quang.

Người Việt tị nạn cộng sản chúng ta sau 42 năm từng cá nhân, từng gia đình và từng cộng đồng đã có nhiều thành công trên mọi mặt và có một tiếng nói cũng như ảnh hưởng nào đó với các nước đang sống tạm dung mà chúng ta có thể nương theo thực hiện được giấc mơ hồi hương như người Do Thái.
 

Thế hệ thứ nhứt phải có trách nhiệm lưu truyền giấc mơ trở về quê hương Việt Nam qua những thế hệ kế tiếp. Ngoài những cuộc đấu tranh kiên trì liên tục dưới nhiều hình thức từ lâu nay, thế hệ thứ nhứt phải bỏ thời giờ và công sức cũng như những kinh nghiệm với cộng sản hướng dẫn, giáo dục thế hệ thứ hai, thứ ba phải tích cực nối tiếp giấc mơ của chúng ta. Thế hệ thứ nhứt phải tạo điều kiện có những đối thoại trực tiếp, thẳng thắng và chân tình tin cậy lẫn nhau để cùng nhau có sự đồng thuận của các thế hệ của người Việt tị nạn cộng sản. Thế hệ thứ 2, 3 phải thấy được sự đấu tranh và hi sinh của thế hệ cha anh là chính danh, đáng ngưỡng mộ và ghi ơn, tôn trọng và tin tưởng thế hệ cha anh mình mà ra sức tiếp tục đấu tranh qua nhiều hình thức nối tiếp thực hiện giấc mơ của thế hệ cha anh để xứng đáng là hậu duệ.

Chắc chắn trong đối thoại giữa thế hệ sẽ có khoảng cách về suy nghĩ và nhận định và hoạt động nhưng phải cùng nhau ấp ủ thực hiện giấc mơ trở về quê hương Việt Nam không cộng sản.
 

Những người của thế hệ thứ nhứt là nạn nhân trực tiếp của chế độ cộng sản phải cho thế hệ thứ hai, thứ ba cảm nhận được nổi đau khổ của mình về sự tàn bạo, độc ác vô nhân đạo của cộng sản mà mình là nạn nhân và  chính nghĩa của chế độ VNCH trong chiến tranh Việt Nam mà từ lâu bị tuyên truyền xuyên tạc bởi cộng sản cũng như bởi những thành phần phản chiến ở Mỹ và trong nước. Thế hệ thứ nhứt qua những kinh nghiệm bản thân là nạn nhân khi phải đối đầu với cộng sản phải thường xuyên trao đổi, hướng dẫn, thuyết phục thế hệ 2, 3 tin được và thấy được chính Cộng Sản Việt Nam là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam chớ không phải chỉ là kẻ thù của nhân dân miền Nam từ ngày đảng cộng sản thành lập trong những năm 1930 cho đến những vụ án giết người kinh hoàng vô nhân đạo như Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẫm, Cải Tạo Tư Sản, Học Tập Cải Tạo, Kinh Tế Mới v…v cho đến gần đây những cuộc cướp đất trắng trợn của dân lành cho đến vụ Đồng Tâm, Formosa, Hà Tĩnh và những vụ tấn cộng tàn bạo các tôn giáo như Công Giáo, Tin Lành và Phật Giáo Hoà Hảo  v…v  để cho thế hệ 2, 3 hậu duệ không mơ hồ, ảo tưởng, nhẹ dạ mắc mưu cộng sản.
 

Theo những nghiên cứu của những nhà Nhân Chủng Học tự nhiên thì thế hệ thứ hai, thứ ba có những nhu cầu khẩn thiết phải tìm về côị nguồn của họ. Họ sẽ tự hỏi : Họ là ai? Họ đang sống ở đâu? Đang làm gi ? và làm cho ai? Cho đất nước đang tạm dung hay cho quê hương Việt Nam? Chính những câu hỏi này đã thôi thúc thế hệ 2, 3 một cách cuồng nhiệt hơn trên đường tìm về cội nguồn dân tộc và đó cũng là động cơ sức mạnh thúc đẩy họ tích cực hơn, quyết tâm hơn nối tiếp giấc mơ của cha anh mà thế hệ thứ nhứt cố gắng rèn luyện thế hệ 2,3 sự kiên trì tin tưởng như

qua truyện ngắn Cậu Bé và Hoa Mai của nhà văn Phan Tấn Hải : “Ông thầy nhân chuyện dẫn cậu bé đi tìm hoa mai đã khai thị cho cậu học trò này bài học “về niềm tin, về ước vọng, về lòng kiên trì, bền bỉ để thành đạt ước mơ cao cả của đời người” ( trích “ Tháng Tư, Đọc Truyện Cậu Bé và Hoa Mai” của nhà văn Phan Tấn Hải của tác giả Hùynh Kim Quang Việt Báo On-Line).
 

42 năm qua người Việt tị nạn cộng sản chúng ta qua các thế hệ 2,3 đã có nhiều thành công đáng kể và có nhiều đóng góp quan trọng qua những vai trò trong nhiều lãnh vực của xã hội tạm dung từ khoa học, kỷ thuật, văn hoá, nghệ thuật cho đến giáo dục và chính trị. Chúng ta có những dân biểu, nghị sĩ, thứ trưởng, thị trưởng những kỷ sư, bác sĩ trong chính quyền Mỹ và chính quyềnb các nước tạm dung các cấp. Chúng ta có những tướng, tá trong quân đội Hoa Kỳ, những triệu phú, tỉ phú trong thương trường v…v.

Người Việt tị nạn cộng sản xuyên qua thế hệ 2, 3 đang có uy tín và ảnh hưởng và tiếng nói của cộng đồng người Việt đang được lắng nghe. Những thành công này đang là những yếu tố ảnh hưởng đến những người làm chính sách của xã hội tạm dung như người Do Thái đã làm.
 

Cùng nhau nguyện rằng Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4 là dịp để các thế hệ 1,2,3 cùng nhau chia sẻ, cùng tâm nguyện thực hiện giấc mơ trở về quê hương Việt Nam yêu dấu tự do, dân chủ nhân quyền và hạnh phúc xứng đáng là Con Lac Cháu Hồng hãnh diện 4000 năm giữ nước và dựng nước

Hi vọng thế hệ 2, 3 của chúng ta sẽ học được những bài học của người Do Thái và theo bước chân của người Do Thái thực hiện được giấc mơ trở về quê hương Việt Nam trong tự do, dân chủ, nhân quyền và thịnh vượng không còn cộng sản trong một thời gian ngắn.

Mong vậy thay ./.  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mặc dù chỉ mới ba năm trôi qua kể từ khi bà Merkel rời nhiệm sở, nhưng thế giới đã thay đổi quá nhiều đến mức mà chức thủ tướng của bà đã được cảm thấy như nó thuộc về một thời đại khác. Cuốn hồi ký mới của bà cho thấy bà bình tâm với những quyết định đã đưa ra, bao gồm cả những quyết định bị phê phán nghiêm khắc nhất.
“Việc cắt giảm chăm sóc sức khỏe để trả tiền cho các khoản giảm thuế sẽ là sai về mặt đạo đức và tự sát về mặt chính trị.” TNS Josh Hawley (Cộng Hòa, Missouri)
Từ năm 1949, tháng Năm được chọn là Tháng Nhận Thức Về Sức Khỏe Tâm Thần (Mental Health Awareness Month – MHAM) ở Mỹ. Đây là tháng mang ý nghĩa kêu gọi cùng nâng cao nhận thức, giảm bỏ kỳ thị và thúc đẩy bảo vệ sức khỏe tâm thần. Theo phúc trình năm 2024 của tổ chức Mental Health America ở Alexandria, Hoa Kỳ thật sự đang trong cuộc khủng hoảng sức khỏe tâm thần. Cứ năm người trưởng thành ở Mỹ thì có trên một người đang sống chung với bệnh tâm thần, và hơn một nửa không được điều trị. Gần 60 triệu người lớn (23.8%) mắc bệnh tâm thần trong năm 2024. Gần 13 triệu người lớn (5.04%) có ý định tự tử.
Chiến dịch cắt giảm chi tiêu của chính quyền Trump, vốn đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực từ nghệ thuật đến nghiên cứu ung thư, nay còn bao gồm cả nỗ lực thực hiện mục tiêu lâu dài của Đảng Cộng Hòa: chấm dứt hoàn toàn nguồn tài trợ liên bang cho hai hệ thống truyền thông phục vụ công chúng lớn nhất nước Mỹ: NPR và PBS. Hiện có khoảng 1,500 đài phát thanh và truyền hình độc lập liên kết với NPR và PBS trên khắp Hoa Kỳ, phát sóng các chương trình nổi tiếng như Morning Edition, LAist, Marketplace, PBS NewsHour, Frontline và Nova... Theo dữ liệu từ các hệ thống này, có khoảng 43 triệu người nghe đài công cộng hàng tuần, và mỗi năm có hơn 130 triệu lượt xem đài PBS.
Ngày 30.04.1975 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử cận đại của Việt Nam. Nhưng năm mươi năm sau nhìn lại, dân tộc Việt oai hùng, như vẫn thường tự nhận, đã không có đủ khôn ngoan để ngày chiến tranh chấm dứt thành một cơ hội đích thực để anh em cùng dòng máu Việt tìm hiểu nhau, cùng chung sức xây dựng đất nước.Tiếc thay, và đau thay, cái giá tử vong cao ngất của hơn 2 triệu thường dân đôi bên, của hơn 1triệu lính miền Bắc và xấp xỉ 300.000 lính miền Nam đã chỉ mang lại một sự thống nhất địa lý và hành chính, trong khi thái độ thù hận với chính sách cướp bóc của bên thắng trận đã đào sâu thêm những đổ vỡ tình cảm dân tộc, củng cố một chế độ độc tài và đẩy hơn một triệu người rời quê hương đi tỵ nạn cộng sản, với một ước tính khoảng 10% đã chết trên biển cả.
Bằng cách làm suy yếu các đồng minh của Mỹ, chính quyền Trump đã làm suy yếu việc răn đe mở rộng của Mỹ, khiến nhiều quốc gia cân nhắc liệu họ có nên có vũ khí hạt nhân cho riêng mình không. Nhưng ý tưởng về việc phổ biến vũ khí hạt nhân nhiều hơn có thể ổn định dựa trên nền tảng của các giả định sai lầm.
Tạp chí TIMES kết thúc cuộc phỏng vấn với Tổng thống Trump nhân dịp đánh dấu 100 ngày ông ta quay lại Tòa Bạch Ốc (20/1/2025) bằng câu hỏi, “John Adams, một công thần lập quốc, vị tổng thống thứ hai của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (1797 – 1801) đã nói chúng ta là một quốc gia pháp trị, chứ không phải bất kỳ người nào, Tổng thống đồng ý không?” Donald Trump trả lời: “Chúng ta là một chính phủ do luật pháp cai trị, không phải do con người sao? Ồ, tôi nghĩ vậy, nhưng anh biết đấy, phải óc ai đó quản lý luật pháp. Bởi nên, con người, nam hoặc nữ, chắc chắn đóng một vai trò trong đó. Tôi không đồng ý với điều đó 100%. Chúng ta là một chính phủ mà con người tham gia vào quá trình thực thi luật pháp, và lý tưởng nhất là anh sẽ có những người công chính như tôi.”
Chuyện “Ngưng bắn…” kể cho độc giả Bloomington ngày ấy, đã là chuyện quá khứ. 30 tháng Tư năm sau, cuộc chiến trên đất Việt tàn. Chủ nghĩa Cộng sản, nguyên nhân của nạn binh đao, dìm quê hương tôi trong biển máu hàng thập kỷ, cuối cùng đã hưởng hết 70 năm tuổi thọ. Tưởng chuyện đau thương trong một ngày ngưng bắn của gia đình, vì sự an toàn, phúc lợi của loài người, phải trở thành cổ tích. Vậy mà hôm nay, trong thời đại này, chuyện buồn chiến tranh của tôi đang tái diễn...
Mười năm, 20 năm, và nhiều hơn nữa, khi lịch sử kể lại buổi chuyển giao quyền lực hứa hẹn một triều đại hỗn loạn của nước Mỹ, thì người ta sẽ nhớ ngay đến một người đã không xuất hiện, đó là cựu Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama.
Chiến tranh là chết chóc, tàn phá và mất mát! Có những cuộc chiến tranh vệ quốc mang ý nghĩa sống còn của một dân tộc. Có những cuộc chiến tranh xâm lược để thỏa mãn mộng bá quyền của một chế độ hay một bạo chúa. Có những cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa hai chủ nghĩa, hai ý thức hệ chỉ biến cả dân tộc thành một lò lửa hận thù “nồi da xáo thịt.” Trường hợp sau cùng là bi kịch thống thiết mà dân tộc Việt Nam đã gánh chịu! Hệ lụy của bi kịch đó mãi đến nay, sau 50 năm vẫn chưa giải kết được. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một nữ chiến binh cộng sản miền Bắc có tên là Dương Thu Hương khi vào được Sài Gòn và chứng kiến cảnh nguy nga tráng lệ của Hòn Ngọc Viễn Đông thời bấy giờ đã ngồi bệch xuống đường phố Sài Gòn và khóc nức nở, “khóc như cha chết.” Bà khóc “…vì cảm thấy cuộc chiến tranh là trò đùa của lịch sử, toàn bộ năng lượng của một dân tộc dồn vào sự phi lý, và đội quân thắng trận thuộc về một thể chế man rợ. Tôi cảm thấy tuổi trẻ của tôi mất đi một cách oan uổng ...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.