Hôm nay,  

Tản Mạn 30-4

03/06/201710:51:00(Xem: 7504)
TẢN MẠN 30-4
 
Kỷ Nguyên Nguyễn Văn Tâm

  
Cứ đến ngày 30 tháng 4 mỗi năm cộng đồng người Việt trên thế giới xôn xao, ồn ào, bận rộn mỗi người một tâm tư riêng nhớ về ngày 30 tháng 4 cách nay 42 năm.

42 năm đã qua nhưng vết thương của người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại cũng như trong nước vẫn còn rỉ máu. Vết thương vẫn chưa lành. Giấc mơ trở về với quê hương nơi chôn rao cắt rốn đất đai của tổ tiên và mong muốn nhìn thấy một đất nước tự do, dân chủ, nhân quyền và giàu mạnh mà thời VNCH đang trên đà đi tới vẫn âm ỉ trong mọi người Việt tị nạn cộng sản.
 

Giấc mơ trở về quê hương Việt Nam tự do, dân chủ, nhân quyền và giàu mạnh dường như bùng lên mạnh mẽ và ồn ào và tích cực ở cao điểm của những ngày 30-4. Rồi những ngày sau đó giấc mơ này bị chìm đi trong quên lãng khi mọi người Việt tị nạn cộng sản phải va chạm với thực tế cuộc sống hằng ngày với những thử thách gay go trong xã hội đa dạng và phức tạp. Giấc mơ trở về quê hương đã phải tạm nhường lại cho những sinh hoạt vì cuộc sống trước mắt của gia đình, lo tương lai cho con cái v…v và chỉ khi có thời giờ rảnh thì giấc mơ đó mới hiện về.  Rồi cuộc sống quay cuồng lại cuốn hút giấc mơ đó đi. Chu kỳ này được lập đi lập lại gần 42 năm nay rồi.
 

Liệu rằng giấc mơ này còn kéo dài trong bao lâu để trở thành hiện thực hoặc phải bị đi vào quên lãng khi thế hệ đầu tiên với những kinh nghiệm đau thương của chiến tranh và với cộng sản phải ra đi vì tuổi tác và bịnh tật để nhường lại cho thế hệ thứ hai, thứ ba v..v.?

Hai thế hệ này có được vun trồng, nuôi dưỡng để tiếp tục theo đuổi giấc mơ như người Do Thái sau gần 2000 năm họ đã thực hiện được giấc mơ trở về quê hương trong vinh quang và hùng mạnh như ngày nay hay không ?
 

Hay với một khoảng trống thế hệ sẽ làm gián đoạn giấc mơ trở về quê hương của người Việt tị nạn chúng ta?

Trải qua gần 2000 năm, ngươì Do Thái qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau theo đuổi giấc mơ hồi hương của họ thành công. Liệu người Việt tị nạn cộng sản chúng ta có học được bài học của người Do Thái theo đuổi giấc mơ trở về quê hương Việt Nam yêu dấu trong tự do, dân chủ, nhân quyền và giàu mạnh hay không ?

Chúng ta đã chờ đợi thực hiện giấc mơ này đã 42 năm rồi. Thời gian còn chờ đến bao lâu nữa?
 

Những người chủ quan khi nhận định về tình hình chính trị của nước Việt Nam ngày nay cùng với sự suy thoái của đảng cộng sản VN qua những biến cố chính trị nóng bỏng gần đây cho thấy sức mạnh của nhân dân không còn sợ cộng sản nữa  như vụ Đồng Tâm hoặc vụ Hà Tĩnh Formosa hay vụ Phật Giáo Hoà Hảo v…v. thì cho rằng thời gian đã chín mùi sẽ xảy ra rất gần đây thôi.

Một câu trả lời khác cho rằng thời gian không mau lắm nhưng không lâu như Do Thái họ dựa vào lý do bạo lực của đảng cộng sản vẫn còn gieo rắc sợ hãi, hoang mang nghi ngờ khiến cho người dân thờ ơ với chính trị đấu tranh chống lại cộng sản.

Dù thời gian có dài hay ngắn, lâu hay mau tất cả tùy thuộc vào lòng quyết tâm, kiên trì và sự bền bỉ và có định hướng của mọi người Việt tị nạn cộng sản. Yếu tố con người và sự nối tiếp của thế hệ là bài học chúng ta có thể học được từ người Do Thái.

Người Do Thái có sức mạnh dựa vào Do Thái Giáo của họ như một nền tảng và là chất keo nối kết người Do Thái với nhau và từ thế hệ này qua thế hệ khác.
 

Người Việt Nam thì hãnh diện và tự hào có một lịch sử oai hùng dựng nước và giữ nước từ hơn 4,000 năm qua từ thời Vua Hùng Vương.

Hai dân tộc có một sự tương đồng. Người Do Thái bị trục xuất ra khỏi xứ bôn ba, trốn tránh khắp nơi trên thế giới. Người Việt tị nạn cộng sản bị bức tử bỏ nước ra đi lưu lạc khắp bốn phương trời

Chính vết thương còn rỉ máu của ngày Quốc Hận 30-4 sẽ là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy người Việt tị nạn cộng sản phải vùng lên quyết lấy lại đất nước bị cướp bởi đảng sộng sản VN, thực hiện được giấc mơ của mình.
 

Thề hệ thứ nhứt của người Việt tị nạn cộng sản đã và liên tục đang đấu tranh, vận động thế giới để giải thể đảng cộng sản Việt Nam rất là tích cực. Nhưng xuyên qua thời gian 42 năm qua sức lực của thế hệ thứ nhứt hao mòn nhiều và đang đi dần vào chổ hụt hẫng tạo ra một khoảng trống thế hệ. Khoảng trống của sự mối tiếp giấc mơ tìm về quê hương.

Nếu khoảng trống này không được lấp lại, nếu khoảng trống này tiếp tục rộng lớn hơn khoảng cách thế hệ sẽ xa cách nhau nhiều hơn thì giấc mơ hồi hương của người Việt tị nạn cộng sản chúng ta có thể bị tiêu tan đi.

Trách nhiệm thuộc về ai? Trách nhiệm thuộc về mọi người Việt tị nạn cộng sản chúng ta đang sống lưu vong rải rác trên toàn thế giới và trong nước: thế hệ thứ nhứt, thế hệ thứ hai, thứ ba v…v
 

Người Do Thái từ 2000 năm trước khi bị tống xuất ra khỏi nước phân tán mọi nơi trên thế giới đều cùng nhau tự nhủ rằng phải có ngày về dựng lại nước Do Thái cho nên khi tị nạn tạm cư tại các nơi trên thế giới đều ấp ủ nuôi giấc mơ trở về quê hương Do Thái. Họ dốc lòng hướng về quê hương. Trong khi chờ đợi ngày trở về quê hương họ ra sức tạo dựng những cộng đồng người Do Thái khắp nơi thành một khối đồng nhứt với cùng một giấc mơ trở về quê hương. Họ cùng nhau học tập rèn luyện ý chí quật cường và nổi đau mất nước. Họ luôn trang bị cho những thế hệ nối tiếp giấc mơ trở về quê hương qua những định chế giáo dục văn hoá, tôn giáo tại những nơi họ đang sống tạm dung. Họ làm bất cứ cái gì tạo thành sức mạnh cho cộng đồng của họ và ảnh hưởng đến nước họ đang tạm dung để cũng cố sức mạnh đó theo đuôỉ giấc mơ trở về quê hương. Từng ngưởi, từng gia đình, từng cộng đồng quyết tâm  theo đuổi giấc mơ đó. Những thành công từ cá nhân, từ gia đình và cộng đồng các nơi hợp lại tạo thành một sức mạnh ảnh hưởng đến các nước tạm dung ủng hộ để sau cùng họ trở về được quê hương của họ trong vinh quang.

Người Việt tị nạn cộng sản chúng ta sau 42 năm từng cá nhân, từng gia đình và từng cộng đồng đã có nhiều thành công trên mọi mặt và có một tiếng nói cũng như ảnh hưởng nào đó với các nước đang sống tạm dung mà chúng ta có thể nương theo thực hiện được giấc mơ hồi hương như người Do Thái.
 

Thế hệ thứ nhứt phải có trách nhiệm lưu truyền giấc mơ trở về quê hương Việt Nam qua những thế hệ kế tiếp. Ngoài những cuộc đấu tranh kiên trì liên tục dưới nhiều hình thức từ lâu nay, thế hệ thứ nhứt phải bỏ thời giờ và công sức cũng như những kinh nghiệm với cộng sản hướng dẫn, giáo dục thế hệ thứ hai, thứ ba phải tích cực nối tiếp giấc mơ của chúng ta. Thế hệ thứ nhứt phải tạo điều kiện có những đối thoại trực tiếp, thẳng thắng và chân tình tin cậy lẫn nhau để cùng nhau có sự đồng thuận của các thế hệ của người Việt tị nạn cộng sản. Thế hệ thứ 2, 3 phải thấy được sự đấu tranh và hi sinh của thế hệ cha anh là chính danh, đáng ngưỡng mộ và ghi ơn, tôn trọng và tin tưởng thế hệ cha anh mình mà ra sức tiếp tục đấu tranh qua nhiều hình thức nối tiếp thực hiện giấc mơ của thế hệ cha anh để xứng đáng là hậu duệ.

Chắc chắn trong đối thoại giữa thế hệ sẽ có khoảng cách về suy nghĩ và nhận định và hoạt động nhưng phải cùng nhau ấp ủ thực hiện giấc mơ trở về quê hương Việt Nam không cộng sản.
 

Những người của thế hệ thứ nhứt là nạn nhân trực tiếp của chế độ cộng sản phải cho thế hệ thứ hai, thứ ba cảm nhận được nổi đau khổ của mình về sự tàn bạo, độc ác vô nhân đạo của cộng sản mà mình là nạn nhân và  chính nghĩa của chế độ VNCH trong chiến tranh Việt Nam mà từ lâu bị tuyên truyền xuyên tạc bởi cộng sản cũng như bởi những thành phần phản chiến ở Mỹ và trong nước. Thế hệ thứ nhứt qua những kinh nghiệm bản thân là nạn nhân khi phải đối đầu với cộng sản phải thường xuyên trao đổi, hướng dẫn, thuyết phục thế hệ 2, 3 tin được và thấy được chính Cộng Sản Việt Nam là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam chớ không phải chỉ là kẻ thù của nhân dân miền Nam từ ngày đảng cộng sản thành lập trong những năm 1930 cho đến những vụ án giết người kinh hoàng vô nhân đạo như Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẫm, Cải Tạo Tư Sản, Học Tập Cải Tạo, Kinh Tế Mới v…v cho đến gần đây những cuộc cướp đất trắng trợn của dân lành cho đến vụ Đồng Tâm, Formosa, Hà Tĩnh và những vụ tấn cộng tàn bạo các tôn giáo như Công Giáo, Tin Lành và Phật Giáo Hoà Hảo  v…v  để cho thế hệ 2, 3 hậu duệ không mơ hồ, ảo tưởng, nhẹ dạ mắc mưu cộng sản.
 

Theo những nghiên cứu của những nhà Nhân Chủng Học tự nhiên thì thế hệ thứ hai, thứ ba có những nhu cầu khẩn thiết phải tìm về côị nguồn của họ. Họ sẽ tự hỏi : Họ là ai? Họ đang sống ở đâu? Đang làm gi ? và làm cho ai? Cho đất nước đang tạm dung hay cho quê hương Việt Nam? Chính những câu hỏi này đã thôi thúc thế hệ 2, 3 một cách cuồng nhiệt hơn trên đường tìm về cội nguồn dân tộc và đó cũng là động cơ sức mạnh thúc đẩy họ tích cực hơn, quyết tâm hơn nối tiếp giấc mơ của cha anh mà thế hệ thứ nhứt cố gắng rèn luyện thế hệ 2,3 sự kiên trì tin tưởng như

qua truyện ngắn Cậu Bé và Hoa Mai của nhà văn Phan Tấn Hải : “Ông thầy nhân chuyện dẫn cậu bé đi tìm hoa mai đã khai thị cho cậu học trò này bài học “về niềm tin, về ước vọng, về lòng kiên trì, bền bỉ để thành đạt ước mơ cao cả của đời người” ( trích “ Tháng Tư, Đọc Truyện Cậu Bé và Hoa Mai” của nhà văn Phan Tấn Hải của tác giả Hùynh Kim Quang Việt Báo On-Line).
 

42 năm qua người Việt tị nạn cộng sản chúng ta qua các thế hệ 2,3 đã có nhiều thành công đáng kể và có nhiều đóng góp quan trọng qua những vai trò trong nhiều lãnh vực của xã hội tạm dung từ khoa học, kỷ thuật, văn hoá, nghệ thuật cho đến giáo dục và chính trị. Chúng ta có những dân biểu, nghị sĩ, thứ trưởng, thị trưởng những kỷ sư, bác sĩ trong chính quyền Mỹ và chính quyềnb các nước tạm dung các cấp. Chúng ta có những tướng, tá trong quân đội Hoa Kỳ, những triệu phú, tỉ phú trong thương trường v…v.

Người Việt tị nạn cộng sản xuyên qua thế hệ 2, 3 đang có uy tín và ảnh hưởng và tiếng nói của cộng đồng người Việt đang được lắng nghe. Những thành công này đang là những yếu tố ảnh hưởng đến những người làm chính sách của xã hội tạm dung như người Do Thái đã làm.
 

Cùng nhau nguyện rằng Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4 là dịp để các thế hệ 1,2,3 cùng nhau chia sẻ, cùng tâm nguyện thực hiện giấc mơ trở về quê hương Việt Nam yêu dấu tự do, dân chủ nhân quyền và hạnh phúc xứng đáng là Con Lac Cháu Hồng hãnh diện 4000 năm giữ nước và dựng nước

Hi vọng thế hệ 2, 3 của chúng ta sẽ học được những bài học của người Do Thái và theo bước chân của người Do Thái thực hiện được giấc mơ trở về quê hương Việt Nam trong tự do, dân chủ, nhân quyền và thịnh vượng không còn cộng sản trong một thời gian ngắn.

Mong vậy thay ./.  

Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.