Hôm nay,  

Biển Đời, và Ann Phong

14/06/201700:00:00(Xem: 9625)

Tháng 5, chưa phải mùa bão nhưng đối với người Việt sau biến cố 30 tháng 4, 1975, lại là tháng bắt đầu cơn bão lớn đưa người tị nạn ra biển khơi. Đầu tháng 5 tại Little Sàigòn tại phòng hội Việt Báo, hoạ sĩ Ann Phong đã mở một cuộc triển lãm với tiêu đề "Biển và Đời" quy tụ được rất nhiều khách thưởng tranh trong ba ngày cuối tuần. Riêng ngày thứ Bảy 6 tháng 5, 2017 có thêm tiết mục văn nghệ "Biển và lòng tôi" với bác sĩ Bích Liên và các ca sĩ Thương Linh, nhạc sĩ Đỗ bằng lăng, Hoàng Công Luận góp mặt. Ngày chủ nhật có một work shop do chính họa sĩ Ann Phong hướng dẫn.

Y Sa, là người dẫn chương trình đã giới thiệu nhà thơ Trần Dạ từ chủ bút tờ Việt báo lên phát biểu cảm tưởng.

Ông chia sẻ cảm nghĩ của mình với tranh Ann Phong trong một giọng nhẹ nhàng, đầy chân tình. Ông tiết lộ mình không am hiểu hội họa nhưng lại thấy một cái gì lạ lắm khi xem tranh của Ann Phong. Dường như ấy là cuộc hành trình giữa con người và biển khơi trong đó có những trận đấu đầy sóng gió. Rồi ông nhận thấy sự chuyển hướng trong tranh của bà sang một cái gì tươi sáng hơn, trẻ trung hơn, đầy sức sống, để tạo nên một Ann Phong mới, trẻ trung, tươi hồng như ánh sáng ban mai.

Kế đó, hoạ sĩ Ann Phong đã đưa người xem vào thế giới tạo hình của mình bằng những dẫn giải:

"Khi nghe thi sĩ Trần Dạ từ nói về tranh của tôi, tôi rất xúc cảm. Khi xem tranh nó giống như nhìn một cô gái, tự nhiên thấy thương mà không biết thương chỗ nào. Hệt như ví dụ trên, nhìn một bức tranh thấy thích, mà không biết tại sao"

Bà cắt nghĩa sự khác nhau giữa nghệ thuật đương đại và nghệ thuật hội họa cổ điển ngày xưa trong lối vẽ diễn đạt rõ ràng, khác với lối vẽ trừu tượng ngày nay. Họa sĩ bây giờ vẽ cảm xúc và họ chỉ vẽ những gợi ý, do đó, người xem có thể xem tranh theo ý của mình và dĩ nhiên kết quả là nhiều người xem cùng một bức tranh, lại có những cảm nghĩ khác nhau. Trong loạt tranh trưng bày kỳ này, bà đã và đang cố gắng đi một hướng khác. Nó ngược lại những gì trước đây bà từng làm là dùng ít đi những màu rất đậm, rất dữ dội như bản chất bà. Lần này bà thay bằng những màu hồng, tím. Còn màu vàng bà dùng là màu da của người Việt, màu da của thuyền nhân, vì đường biển là con đường mà bà đến Hoa Kỳ. Tuy nhiên cá tính của bà vẫn còn đấy, đó cũng là cách mà bà muốn làm.

Điểm đặc biệt trong buổi ra mắt là, có rất nhiều những em học sinh trẻ mà bà đã mời đến từ các trường trung học Westminster HS và La Quinta HS. Mục đích chính là bà muốn bắc một nhịp cầu cho các em bước vào thế giới văn chương và nghệ thuật. Bà không quên nhắc nhở các em tha hồ hỏi và đóng góp ý kiến.

Bức tranh màu xanh biển lớn gây ấn tượng nhất cho phòng tranh, có lẽ là bức "Lives are like bubles". Nó tạo sự tương tác giữa nguời xem và người vẽ bằng cách, bạn chọn một trong những cái nút nhỏ hình tròn như bọt sóng có nam châm mà trên ấy có vẽ những con thuyền rất nhỏ. Bạn có thể đặt cái nút tròn tượng trưng cho con thuyền cuộc đời bạn vào bức tranh kia. Bạn sẽ hình dung ra được cuộc đời bạn thế nào, giữa biển đời phong ba bão táp.


Trong phút dạo gót quanh phòng tôi thấy được, một em trai đang chăm chú xem tranh. Em đã tiết lộ:

"Em tên Điền từ La Quinta HS do thầy giáo dạy tiếng Việt giới thiệu tới. Em sinh ra ở Việt Nam, học lớp 12 qua Mỹ mới được 2 năm. Em không biết gì về hội họa. Em cảm thấy bà hoạ sĩ đã vẽ rất nhiều. Em biết đến buổi triển lãm này nhờ em học lớp tiếng Việt của thầy Bạch. Thầy dạy nhiều về biến cố 30 tháng 4 và những cuộc vượt biên của người tị nạn. Lúc còn ở Việt Nam mẹ em có nói nhiều về việc này nhưng em không biết và hiểu gì hết. Hôm nay nhờ thầy Bạch mà em được biết nhiều hơn."


Tôi được gặp thầy Bạch Thái Dũng là người đầu tiên dạy tiếng Việt, giờ đã được 15 năm, trong trường La Quinta HS. Mục đích của ông là giới thiệu và khuyến khích các em có một kinh nghiệm vào một phòng tranh.

Nhân dịp ông đang dạy về "Tháng Tư Đen" mà buổi triễn lãm này lại trùng hợp với bài dạy, nên ông khuyến khích các em đến xem và cho bài tập cùng các câu hỏi liên quan tới hội hoạ của Ann Phong. Ông thêm "Các em học tiếng Việt phải biết Tiếng Việt là ngôn ngữ di sản, phải tham gia vào sinh hoạt cộng đồng để bảo tồn văn hóa, để hiểu mình là ai và từ đó phải biết lịch sử cộng đồng."

Khi tôi xin ý kiến của một khách thưởng tranh khi cô đang đứng trước bức "Human and Nature", cô cho biết:

"Tôi thấy màu sắc tranh Ann Phong và của bức này rất nhã, và có tình thật trong màu sắc đó. Tôi nhìn ra nó giống một thân cây nứt ra bởi vì cây đã rất già. Nó nêu lên sự sống sót và sự đau khổ của thân cây. Tôi thấy dường như nó đang đau đớn, và muốn nói lên "đừng để tôi trong này nữa mà hãy đưa tôi ra" Tôi cũng lại thấy bức tranh giống hình một con lợn đang đau đớn, tựa như nó sắp bị đem ra mổ xẻ. Phía trên của thân cây trông giống lỗ mũi của một con lợn."

Phần cuối chính là phần tôi dành cho HS Ann Phong. Tôi xin bà kể lại câu chuyện vượt biển của mình và biến cố đó tác động thế nào đến cuộc đời bà.

"Tôi vượt biên năm 1981, đối với tôi nó là một cuộc vượt biên thành công. Khi ấy, một học sinh lớp 7 của tôi, khoảng 13 tuổi dẫn đi. Tuy nhiên, em không ra bến được, sau này mới biết em bị bỏ tù ba năm. Tàu của tôi chỉ đủ chỗ cho 4 người mà lại chở đầy ngập 56 người. chúng tôi đi vào tháng 10, 11 là mùa bão. Chúng tôi may mắn thoát được 1 cơn bão lớn nhờ sự cứu giúp của một tàu đánh cá Thái Lan. Người thuyền trưởng cho chúng tôi lên tàu ông và cột chiếc tàu không của chúng tôi vào tàu ông. Khi bão đến, điều chúng tôi thấy rõ nhất là bão, sóng, đập lên đầu của mọi người. Ông thuyền trưởng của Thái rất hay và biết chẻ sóng mà đi. Ông không đi đường ngang của sóng mà chạy thẳng vào sóng nên ra khỏi sóng được. Nếu không gặp tàu Thái Lan thì tàu của chúng tôi đã chìm rồi. Khi đến đảo Paula Bidong, Mã Lai, tôi gặp lại hai đứa bé học trò cũ khoảng 11, 12 tuổi. Chúng chạy đến ôm tôi và nói "Em bị hãm rồi cô ơi". Tôi đau xót, ôm chúng vào lòng. Tội 2 em bơ vơ không cha mẹ đi theo, lại bị hãm hiếp khi tuổi còn rất nhỏ.

Cảm giác đau thương đó, tới hôm nay vẫn còn trong tôi, nên tôi vẽ không phải cho tôi mà tôi vẽ cho các em, cho thuyền nhân. Trong cuộc đời có những khó khăn, đau khổ và giây phút phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải. Tôi nghĩ cần phải đi thẳng và cần sự kiên cường để đối mặt với nó. Năm 1992, khi tôi lấy bằng Master vào trường đại học, Tôi có nghiên cứu và tìm hiểu trên sách báo của người Mỹ về thuyền nhân. Họ đã diễn tả người thuyền nhân rất thê thảm. Phần hình ảnh thì họ chọn những góc cạnh đau khổ nhất để chụp. Ngoài những thống khổ đó, tôi thấy được điều quan trọng nhất là lòng can đảm của người dám ra đi, bỏ hết tất cả và trong cái chết tìm lại sự sống. Tuy nhiên điều đó người Mỹ không nhận thấy. Vì vậy tôi lấy chủ đề này vẽ ra cho họ thấy, vả lại nó lại rất thật với tôi nên từ đó chủ đề thuyền nhân luôn đi với tôi.

Trịnh Thanh Thủy

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.