Hôm nay,  

Viết về Duyên

15/06/201711:47:00(Xem: 9905)
Viết về Duyên

Đỗ Xuân Tê

 

 blank

Nhân Quán Văn số mới nhất mang chuyên đề chân dung một thi sĩ xứ Bưởi, tôi bỗng nảy sinh muốn viết ít hàng về ‘một người con gái tên Duyên’. Những người yêu thơ Nguyễn Tất Nhiên từ thưở sinh thời ít nhiều cũng có nghe giai  thoại về cô gái Bắc kỳ nho nhỏ này đã một thời làm tan nát trái tim chàng học sinh si tình cùng lớp tại một ngôi trường tỉnh lẻ, mà chỉ một thập niên sau đã  trở thành nhà thơ trẻ có chỗ đứng nhất định trong văn học miền Nam.

Tới khi ra hải ngoai, nhà thơ đa tài nhưng vắn số được coi như niềm tự hào của những đồng hương xứ Bưởi khi Nguyễn Tất Nhiên trở thành danh nhân ngang vai với những bậc trưởng thượng, quan tướng, sĩ phu nổi tiếng một thời của đất Đồng Nai, thủ phủ miền Đông.

Tôi biết Nguyễn Tất Nhiên trước khi anh thành danh. Tôi hâm mộ Nguyễn Tất Nhiên không hẳn vì thơ, mà là yêu những ca khúc được phổ thơ của anh.Trước khi thơ anh trở thành nhạc, tôi đã đọc thi phẩm đầu tay Thiên Tai  qua giới thiệu của một đồng nghiệp là thầy dậy của anh. Tôi đã gặp đâu đó chàng trai thích in thơ và muốn nổi danh gần doanh trại của tôi khi anh chàng cố tiếp cận một nhà thơ quân đội (cũng là bạn đồng ngành) sau này là người đỡ đầu cho bước khởi đầu con đường thi ca của anh.

Và phải nói có phần thiếu trọng thị khi không ít ngưòi vô tình đánh giá thấp tài năng của Nguyễn Tất Nhiên, có thể lúc đó  tuổi đời và sở học của chàng thi sĩ trẻ chưa đến độ chin. Tôi cũng là ngưòi trong số này, nhưng do sinh hoạt nghề nghiệp tôi ỷ y có may mắn được giao tiếp với nhiều nhà thơ nhà văn mà sau này có người trở thành huyền thọai kể cả nhà thơ đã mentor cho anh.

Cho đến khi đất nước đổi đời mũ áo te tua, anh em chúng tôi trớ trêu thay lại là lúc  ‘bắt gặp’  Nguyễn Tất Nhiên qua những bài hát chui trong một số trại cải tạo miền Bắc, nơi mà chỉ còn chút an ủi khi nhạc vàng lại lên ngôi trong tâm thức những người lính về một thời đã có những kỷ niệm vui buồn ‘để nhớ để quên’.

Nguyễn Tất Nhiên đến với anh em chúng tôi thường về đêm, khi nhạc vàng tình cờ trở thành ngôn ngữ chung cho cả người tù lẫn đám coi tù. Những bài hát lạ, có âm điệu ra riết, gợi nhớ và được phổ thơ bởi người phù thủy bậc thầy Phạm Duy thì phải nói không thể thiếu những vần thơ tươi mát, nhí  nhảnh, ru tình của Nguyễn Tất Nhiên.  Thà như giọt mưa, Cô Bắc kỳ nho nhỏ, Em hiền như Masơ, Vì tôi là Linh mục…đánh trúng tim những kẻ bị lưu đầy vì tiết tấu và ca từ của nó như liều thuốc làm dịu đi nỗi nhọc nhằn lao động ban ngày và cơn đói dằn vặt về đêm.

Ca từ vừa lạ, tiết tấu vừa vui phải nói ca khúc Vì tôi là linh mục do nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang phổ nhạc trở thành top hit do yêu cầu của các bạn ta, và tôi nhớ bài này hay được hoan nghênh khi được hát bởi một nhà tu xuất (cựu thiếu tá PĐT, quận trưởng Buôn Hô).

Nhìn lại những năm đầu của thập niên ’70 nhạc giúp thơ thăng hoa. Ngược lại nếu không có thơ với phần ca từ mượt mà của nó, nhạc cũng khó đi vào lòng quần chúng mà quanh quẩn cũng chỉ là những cung điệu boléro ngoại ô đèn vàng, đóm mắt hỏa châu… Thơ Nguyễn Tất Nhiên được hâm mộ trong thời điểm này, nhưng vẫn mờ nhạt khi bị cái bóng phủ dầy của người phổ nhạc thường lập lờ xuất xứ khi phát hành chẳng chịu đề tên.

Nhưng định mệnh có phần khắc nghiệt với Nguyễn Tất Nhiên, số phận như được dự báo quanh cái tên thi phẩm đầu tay - Thiên Tai.  Để có một chỗ đứng như một nhà thơ có đẳng cấp, NTN  chịu nhiều khổ ải, gian truân, kể cả những cuộc tình muốn yêu mà chẳng được yêu, muốn quên mà chẳng thể quên, rồi đổ vỡ trong hôn nhân, bế tắc trong cuộc sống, khủng hoảng trong tâm linh, dẫn đến cái chết tự chọn, dù một lần vì D. mà: nếu vì em mà thiên tài chán sống/thì cũng vì em ta ngại bước xa đời , để rồi sa vào những hệ lụy với chứng tích không tên, trở thành đề tài tranh cãi liên hệ đến nhiều bên kể cả người thân, người bảo trợ và độc giả yêu thơ.

Có một dạo khoảng mười năm trở lại đây, người ta lại khơi dậy vài giai thoại về cuộc sống riêng tư của nhà thơ, chẳng ăn nhằm gì đến văn học. Tôi một kẻ yêu thơ Nguyện Tất Nhiên đã đóng góp một bài, “Xin hãy để nhà thơ xứ Bưởi ngủ yên”.  Dù ngày ấy chưa có duyên viết lách, nhưng bài viết được sự chú ý, rồi câu chuyện tàn lụi theo thời gian.

Càng về sau, Nguyễn Tất Nhiên được đánh giá, vinh danh nhiều hơn, thơ được tái bản, ca khúc được yêu cầu, thơ mới được in ấn, nhiều  bài do chính anh viết nhạc cho thơ anh. Nhiều chuyên đề về NTN được thực hiện, mới nhất từ Quán Văn, một tạp chí văn học uy tín, với bài vở đóng góp của nhiều tác giả đã thành danh trong nước và hải ngoại. Trùng hợp, lại được xem vài phác thảo về chân dung NTN và Thà như giọt mưa của Đinh Trưòng Chinh trên Blog PCH, gợi nhớ cho tôi cùng nhiều bạn đọc cảm xúc khó quên về nhà thơ tài hoa này.
  

...Tôi nhớ có đọc đâu đó, Ngày xưa Bùi thị…có lần viết cho người si mê mình, ‘trước sau chỉ là bạn, nếu có ý gì đó, thì tôi không gặp nữa’, nhưng dù cho tình yêu một chiều, chàng trai vẫn chấp nhận, ‘Duyên của ta tình con gái Bắc/ bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng’’. Nay nhìn lại, để qua yếu tố lãng mạn, dù mến mộ nhà thơ, tác giả đỏan văn này vẫn mừng cho Duyên là không lấy được Nhiên. Ý tưởng ngộ ngĩnh này cũng khó lý giải, âu cũng là định mệnh, định mệnh trong cuộc đời. định mệnh trong tình yêu, định mệnh trong chiến tranh.

Tôi đã đọc và trân trọng bài viết của Chủ Biên Nguyên Minh, Như một lời cám ơn rất nồng ấm, trang trọng khi viết về một phần đời của người con gái đã để lại dấu ấn và nguồn cảm hứng vô tận cho dòng thơ Nguyễn Tất Nhiên.

Trở lại chủ điểm của bài viết, nếu Nguyên Minh biết và gặp được Duyên-Tùng qua Đinh Cường, thì nhờ Đinh Cường mà tôi chú ý đến cặp đôi này qua Những đoạn ghi (dưới hình thức Thơ) khi người họa sĩ  trải lòng về mối quan hệ tình bạn giữa họ và đặc biệt với Duyên, mà trước sau ông vẫn coi như một người em gái trong sinh họat nghệ thuật và ngoài đời.

Từ đó cứ lân la qua mấy Blog thân quen, đặc biệt qua Phạm Cao Hoàng, nơi mà Đ.C. xử dụng như ‘hộp thư’ để nhờ phổ biến và lưu giữ thơ anh, tôi khám phá ra rằng (có thể đã trễ), ‘người tình’ trong Thơ của NTN  cũng là ‘người thơ’ trong cuộc sống đời thường. Nhiều bài thơ sáng tác dưới tên DUYÊN, tuy chỉ là những vần thơ tài tử và tác giả cũng chẳng hề xưng nhận nhà thơ, nhưng trong tôi - một người yêu thơ - vẫn cảm nhận và đánh gía Duyên như người làm thơ rất có tiềm năng, khiêm tốn, đôn hậu, giàu cảm xúc không thua gì so với một số nhà thơ nữ hải ngoại mà tôi có dịp được đọc và thân quen.

Xin viện dẫn vài bài khi ta nghe ký ức của Duyên qua cái chết của một thanh niên trẻ trong thời chiến, anh cũng là bạn học tên Dũng người hàng xóm bên kia sông,   

 

một ngày kia, có tôi

đáp chuyến đò, trưa

tìm đến ngôi nhà, không có số

vách trống, yên bình

khu vườn rộng, bao la

cha mẹ hiền

và một người em gái nhỏ

báo tin buồn

anh D. vừa tử trận, hôm qua

anh ra trường, mới đeo lon chuẩn úy

hỡi dòng sông

tự bao giờ

đã ngập tràn nước mắt.

anh đi rồi

sông buồn, giữ lại, bóng hình anh….

….

(viết cho anh Dũng, tháng tư buồn CÓ MỘT DÒNG SÔNG)

 

Duyên cũng rất trân trọng các con chữ, trong bài ‘xếp lại. xót xa, xưa’, cô cảm nhận với niềm an nhiên sâu sắc  khi đọc những vần thơ qua tác phẩm của một bạn văn,

….

con đường nào

đầy ắp ước mơ. xanh

chữ lăn mình…con chữ long lanh

lời hoan ca, niềm vui lạ

quên những chênh vênh.

gập ghềnh. sóng gió

con chữ mơ màng

ẩn. hiện. giấc mơ, tan

khi . an nhiên

uống ngụm nắng tàn

  

Như tiết tấu một bài hát, thơ của Duyên  phân đoạn, dàn ý, chấm phết có vẻ cầu kỳ, khi đánh máy lại tôi cứ phải dò từng con chữ, nhưng đấy chính là thơ của Duyên. Tuy có lúc giản đơn, nhưng hiểu cho cùng cũng không phải là dễ. Tôi khép lại bài viết với cảm xúc khá ấn tượng về những bức chân dung bằng màu chì của Duyên, khi phác thảo xuất thần các khuôn mặt bạn văn, bằng hữu cô có lòng yêu quí. Như vậy cũng đủ cho người viết khi tình cờ ngẫu hứng muốn ‘Viết về Duyên’.

  

Đỗ Xuân Tê

(Quận Cam, mùa bưởi tháng 6, 2017)  

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.