Hôm nay,  

Cải Cách Ngân Hàng

30/03/200500:00:00(Xem: 14364)
Hôm chủ nhật 27 vừa qua, dư luận tại Việt Nam có nêu vấn đề về thời điểm sẽ cổ phần hóa bốn ngân hàng thương mại quốc doanh. Ngành tài chánh VN sẽ đi về đâu"
Diễn đàn Kinh tế của đài RFA góp ý về vấn đề ấy, đối chiếu với trường hợp Trung Quốc, qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa. Tiết mục chuyên đề sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, cuối tuần qua, một số báo chí Việt Nam có nêu câu hỏi "bao giờ sẽ cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh"" với nhận xét trong phần giới thiệu là - chúng tôi xin trích nguyên văn: "Chủ trương cổ phần hóa bốn ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ khó có thể thành công vì có quá nhiều rào cản phi lý. Và chừng nào bốn ngân hàng này vẫn còn thuộc quyền sở hữu và kiểm soát của Chính phủ thì tính minh bạch và tình trạng tham nhũng lãng phí trong các mối quan hệ phức tạp này vẫn khó có thể cải thiện được." Thưa ông, trên diễn đàn này, khi phân tách các mối lo xuất phát từ Trung Quốc, ông nói đến nguy cơ khủng hoảng kinh tế Hoa lục và còn dự báo một thời điểm then chốt là năm tới, khi các ngân hàng quốc doanh Trung Quốc sẽ gặp sự cạnh tranh của ngân hàng nước ngoài, theo quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, và có thể sụp đổ vì dân rút tiền tháo chạy. Vì vậy, kỳ này xin ông trình bày vấn đề phức tạp ấy, khi Việt Nam mong sớm gia nhập tổ chức WTO, mà các ngân hàng thương mại quốc doanh lại quá yếu kém. Đề nghị ông bắt đầu với đề mục nhiều thính giả và độc giả theo dõi là rủi ro khủng hoảng tại Trung Quốc.
-- Thưa vâng, khởi sự từ Trung Quốc vì một số giới chức Hà Nội còn coi đó là khuôn vàng thước ngọc mà không thấy những nghịch lý và hiểm nguy tiềm ẩn ở dưới. Tuần báo nổi tiếng của Anh là tờ The Economist trong tuần qua cũng nói đến mấy nguy cơ này khi phân tách về sức mạnh và nhược điểm của Trung Quốc tại Đông Á. Tôi mong là giới hữu trách trong nước sẽ kịp nhìn ra chỉ vì hệ thống ngân hàng tại Việt Nam cũng có đầy nhược điểm tương tự, xuất phát từ chiến lược tương tự.
Về Trung Quốc, tôi trộm nghĩ là xứ này đang từ từ trôi vào khủng hoảng dù dư luận đây đó đã nói về kinh tế Hoa lục như một thế lực mới. Gần 20 năm trước, dư luận Mỹ đã báo động về thế lực kinh tế Nhật Bản, sau đó, Nhật Bản bị khủng hoảng và giờ này chưa hồi phục. Một trong những chỉ dấu tiên báo mối nguy ấy từ Trung Quốc là sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng, biến cố sẽ làm vài trăm triệu ngươi dân phá sản vì lỡ ký thác tiết kiệm, một ngạch số rất cao, vào các ngân hàng của nhà nước.
Hỏi: Ông cho là sự kỳ diệu hay phép lạ kinh tế Trung Quốc làm nhiều nước đang lo sợ hoặc ngợi khen thực ra sẽ tiêu tán trong tương lai trước mắt. Vì sao lại có nghịch lý ấy"
-- Trong một dịp phân tách kinh tế Việt Nam, tôi có nói đến nền kinh tế hai tốc độ của hai khu vực; trường hợp Trung Quốc không khác vì Việt Nam học theo Trung Quốc sau khi Bắc Kinh học theo sách lược kinh tế Đông Á và trùm lên đó trên hệ thống chính trị độc đoán và kinh tế bao cấp. Lãnh đạo Trung Quốc lấy các tỉnh duyên hải, khu vực xin gọi là "hướng ngoại", làm đầu máy tăng trưởng qua xuất nhập khẩu. Nhà nước bao cấp bảo đảm tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp cứ ra sức sản xuất, bất kể tới tính toán kinh doanh lời lỗ, hay những yếu kém về quản trị, tiếp thị. Nếu cứ đóng cửa làm ăn với nhau theo lối lấy công làm lãi như vậy, và đằng sau có nhà nước giăng lưới đỡ đần thì họ có thể tạo ra phép lạ nhờ sức cạnh tranh của một dân số rất đông. Nhưng, khi đã mở cửa ra ngoài và nhìn thấy tiềm năng huy động vốn bên ngoài, nôm na là vay mượn bằng ngoại tệ từ nước ngoài, Bắc Kinh bắt đầu lo sợ về rủi ro hối đoái, ở nhà gọi là ngoại hối, nên từ năm 1994 đã giàng giá đồng nhân dân tệ vào đồng Mỹ kim. Đô la Mỹ lên xuống tới đâu thì tiền trong nước theo tới đấy để khỏi bị biến động hối đoái.
Hỏi: Chế độ ngoại hối ấy bắt đầu bị các nước khác than phiền, như ông nhiều lần trình bày trên diên đàn này. Nhưng mà nền tài chánh của Trung Quốc thì lại được bao cấp, song song với biện pháp giàng giá như thế để tiền được rẻ hơn. Ông cho rằng Trung Quốc có phân tích được điểm mạnh điểm yếu của nền kinh tế như vậy hay không"
-- Trung Quốc không phải là không thấy nhược điểm của một hệ thống sản xuất được nâng đỡ như thế vì khi tiền rẻ và dễ vay là các doanh nghiệp tiêu bậy, đầu tư phi lý hay trục lợi. Từ đầu năm ngoái, Bắc Kinh có biết ra nguy cơ tăng trưởng quá nhanh vì đầu tư vung vãi nên ra lệnh tạm ngưng cấp phát tín dụng, khi giá cả nguyên vật liệu tăng vọt có thể đẩy lên nguy cơ lạm phát. Các doanh nghiệp bèn tìm cách đi vay bên ngoài, ngạch số ngoại trái tăng mạnh, hơn 18% vào năm ngoái, mà đa số lại là vay ngắn hạn. Số nợ dưới hạn kỳ một năm hiện lên tới 6% tổng sản lượng nội địa GDP. Đấy là nguy cơ khủng hoảng như Đông Á đã bị vào năm 1997. Nhưng không là nguy cơ duy nhất.
Hỏi: Tức là các ngân hàng quốc doanh cũng sẽ gặp nhiều vấn đề vì sách lược đó"
-- Thưa vâng, vì ngoài khu vực hướng ngoại và doanh nghiệp thiên về xuất nhập khẩu, ở Trung Quốc, và cả Việt Nam, còn loại cơ sở thành hình từ lối suy nghĩ duy ý chí của lãnh đạo, là các cơ quan ban phát phúc lợi họ gọi là doanh nghiệp nhà nước. Đấy là các cơ sở không "sản xuất" mà "sản nhập".
Hỏi: Thế nào là "sản nhập""
-- Thực chất là những trung tâm kinh doanh lỗ lã nhưng tồn tại vì bảo vệ việc làm cho công nhân viên và đặc lợi cho đảng viên cán bộ nhà nước.

Hỏi: Thế Việt Nam và Trung Quốc có những điểm tuơng đồng nào trong lãnh vực này"
-- Các cơ sở ấy được ngân hàng cũng của nhà nước ưu tiên tài trợ. Việt Nam có bốn "đại gia" là bốn ngân hàng thương mại quốc doanh do nhà nước làm chủ - thực chất là với tài sản quốc dân - thì Trung Quốc cũng có bốn đại gia. Bốn ngân hàng của Việt Nam làm chủ đến 70% tài sản của cả hệ thống ngân hàng và mỗi ngân hàng đang quản lý một tài sản bằng 15 đến 20% tổng sản lượng GDP. Các đại gia Trung Quốc không kém, vì kiểm soát 60% lượng tín dụng toàn quốc, mà thực chất chỉ là chi nhánh ban phát tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước vì lý do chính sách, chính trị.
Mà các doanh nghiệp này vốn là trung tâm lỗ lã, vay thì dễ trả lại khó, nên các ngân hàng nằm trên hoặc đúng hơn chìm dưới một núi nợ khó đòi và sẽ mất có thể lên tới một phần ba của tổng sản lượng GDP, ít nhất là 500 tỷ Mỹ kim. Nếu không gia nhập tổ chức WTO, Trung Quốc có thể tiếp tục xào nấu sổ sách kế toán để triển hạn cho loại nợ thu chưa được và chẳng bao giờ thu nổi, vì là được triển hạn nên coi như chưa mất. Tuy nhiên, thời điểm 2006 của WTO đã cận kề. Cuối năm 2006, Trung Quốc phải chấp nhận cạnh tranh quốc tế trong khu vực được bảo vệ nhất là ngân hàng. Lúc ấy, các ngân hàng Hoa lục phải có sổ sách minh bạch và nhà nước phải bơm tiền bù lỗ để tăng vốn cho ngân hàng. Từ năm 1999, Bắc Kinh đã xóa gần nợ 300 tỷ cho các ngân hàng và năm ngoái bơm 45 tỷ cho hai ngân hàng quốc doanh mà như gió vào nhà trống. Việt Nam cũng gặp nạn đó.
Hỏi: Và đó có phải là lý do mà Việt Nam chưa có thể cổ phần hóa ngân hàng phải không"
-- Thưa vâng, nhưng đấy chỉ là một trong nhiều lý do thôi. Vấn đề đầu tiên là lãnh đạo Việt Nam không hiểu hay có hiểu mà cố nhập nhằng với khái niệm cổ phần hóa. Thực chất của tiến trình này là "tư nhân hóa", để tư nhân tham gia hùn vốn và điều hành các cơ sở kinh doanh đang do nhà nước quản lý. Muốn vậy, phải chấn chỉnh sổ sách lời lỗ cho minh bạch, sau đó là định giá tài sản còn lại cho chính xác, kế tiếp là thay đổi quy chế pháp lý của cơ sở - mà ta có thể gọi là cổ phần hóa - rồi quy định là toàn phần hay từng phần tài sản ấy sẽ được chuyển ra cổ phần, rao bán cho tư nhân, cho giới đầu tư nội địa hay nước ngoài. Và sau cùng, các chủ đầu tư ấy phải có thể góp phần vào việc điều hành cơ sở kinh doanh. Ngoài tiền bạc, họ còn đóng góp kiến năng về quản trị, tiếp thị và cả thông tin về thị trường thế giới. Đấy là quy tắc chung của tư nhân hóa.
Hỏi: Nhưng, dường như ông cho là Việt Nam không muốn làm như vậy" Mà lý do là vì sao"
-- Có một quy luật "kinh tế chính trị" thời phong kiến là "tậu voi chung với đức ông, vừa phải đánh cồng vừa phải hót phân". Việt Nam ngày nay vẫn đòi áp dụng quy luật ấy với giới đầu tư: cho mua cổ phần là cho góp tiền tậu voi chung với đức ông. Đấy là hàm ý của lối phát hành cổ phần gọi là “ưu đãi” của Vietcombank: góp tiền rồi thôi, đừng lý gì đến việc điều hành ngân hàng. Giới đầu tư cho là nhà nước nói đùa với họ để đẹp lòng các định chế viện trợ cho Việt Nam. Vietcombank được hứa hẹn từ năm kia là sẽ quyết liệt cổ phần hóa vào năm ngoái. Nay thì lại bị đẩy lui vào năm tới.
Vì sao lại có hiện tượng ấy" Một phần vì các ngân hàng thực tế đã phá sản về kỹ thuật khi vốn không đủ bù nợ bị mất. Phần kia vì nhiều giới chức ngân hàng nhà nước sợ mất quyền, cả quyền lực lẫn quyền lợi, nên hù dọa lãnh đạo ở trên. Sau cùng, lãnh đạo cũng thấy là mình cần mạng lưới ban phát tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước thì mới đi đúng "định hướng xã hội chủ nghĩa". Lý do sau này có lẽ là quan trọng nhất.
Hỏi: Ông từng tham gia nghiên cứu trong một trung tâm Hoa Kỳ về cải cách kinh tế tại Việt Nam và có viết một tác phẩm khảo luận về cải cách ngân hàng sau khi theo dõi vấn đề này từ năm 1991. Ông kết luận ra sao về những khó khăn như nhiều người trong nước đã nói ra, và ông cũng từng báo động nhiều lần từ nhiều năm nay"
-- Từ 15 năm qua, giới lãnh đạo Việt Nam có học được nhiều mà chưa thay đổi tư duy nên học cả gương xấu. Đã có lúc họ muốn học theo Nam Hàn và Nhật Bản để lập ra tổng công ty và mơ ước xây dựng mạng lưới giữa ngân hàng và các tổng công ty, dưới sự lãnh đạo tưởng là sáng suốt của nhà nước, để chủ động công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Bây giờ họ mới phân vân là việc ấy sẽ dẫn đến nạn độc quyền, là điều các nước WTO không chấp nhận. Kinh nghiệm Đông Á còn cho thấy rằng đấy là cơ hội tham nhũng vì tạo ra sự cấu kết mờ ám giữa doanh nghiệp, ngân hàng và công quyền. Nay Việt Nam đang do dự giữa những chọn lựa ấy, mà mỗi xu hướng hay trung tâm quyền lợi lại chọn một hướng. Trong khi chờ đợi thì việc cổ phần hóa hay cải cách nói chung lại bị đẩy lui, cho tới khi khủng hoảng nổi lên từ hệ thống ngân hàng Trung Quốc thì có khi lại tiếc là không dám làm sớm hơn Trung Quốc. Chung quy, vài người có chức có quyền ở trong nước vẫn sợ là "trứng khôn hơn vịt", nên ngoan ngoãn chờ xem Bắc Kinh làm gì thì mình làm theo. Năm xưa, có lẽ cũng vì sợ như vậy nên không dám ký Hiệp định thương mại với Mỹ trước Trung Quốc. Bây giờ họ có sáng suốt hơn hay không thì ta chưa biết, dù sao từ trong nước cũng đã có người nói ra. Lãnh đạo các xứ lạc hậu thường chậm hơn dân nên cố lấy thúng úp voi, khi voi lồng thì thúng rách. Khi thị trường có phản ứng phũ phàng thì khủng hoảng dễ bùng nổ ngay trên thượng tầng chính trị.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.