Hôm nay,  

Bánh Căn

05/09/201700:00:00(Xem: 9264)
BANH CAN_vangia17
Hàng Bánh Căn Xóm Chùa đường Trần Hưng Đạo, Vạn Giã.

Đường Bình

Đi xa, ai cũng nhớ Quê Hương, nhớ nơi tôi đã sanh ra và lớn lên. Tôi nhớ cảnh củ người xưa, những kỷ niệm xa xưa còn in đậm trong tâm tư như thể mới xẩy ra ngày hôm qua.

Tôi đang ở trong một thành phố nhỏ, nơi này ít người Việt, muốn ăn một món ăn có hương vị quê hương thì rất khó. Có lúc tôi tự chế, ăn cho đã thèm, mà dù có nổ lực mấy đi nửa thì nó cũng không sao bằng với cái hương vị bên nhà.

Một trong những món ăn mà tôi thích nhứt là bánh Căn. Không biết ai đã sáng chế ra món bánh này, từ lúc nào, và vì sao nó lại có cái tên bánh "Căn", vì sao cùng một loại bánh mà người Saigon Miền Nam lại gọi là bánh "Khọt". Cái danh từ bánh Căn nghe thấy thèm, còn Khọt thì nghe hơi bẩn, khó cho mình bỏ vào miệng, nhưng nếu có lở bỏ vào miệng rồi thì tôi nghỉ cũng khó mà nuốt xuống cổ họng. Tôi đã đi qua 11 tỉnh miền nam, thăm nhiều chợ, ăn nhiều thứ nhưng riêng bánh Khọt thì rất khó mà tìm thấy trong vùng này. Ngay cả thành phố Saigon cũng không dể tìm ra một hàng bánh Khọt. Nói chung bánh Căn không phổ thông trong toàn thể miền nam nước Việt. Ngược lại, bánh Căn là món bánh rất phổ thông ở miền Trung. Nó là loại bánh rất bình dân và rẻ.

Nguyên liệu làm bánh căn rất đơn sơ, chỉ cần một chén bột gạo pha với nước,  một bó hẹ xắc nhỏ. bỏ vào cái oánh nhỏ, cho chút dầu, bắt lên bếp xào chín. Nước chấm thì lấy mấy con tôm tươi, bầm nhỏ, xắc nhỏ trái cà chua, lấy cái xoan nhỏ, vài chén nước, bỏ tôm và cà vô  nấu cho sôi, thêm nước mấm cho vừa ăn, bỏ ít đường cho ngọt, khi ăn, thêm xí ớt cho cay.

Bà con ở nước ngoài muốn ăn bánh Căn cho đúng khẩu vị Ninh Hòa thì hơi khó. Ở nước ngoài không có bán lò và khuôn bánh Căn. Thường thì mình gọi bạn bè tới, xúm nhau pha bột, đúc bánh trên cái lò ga, khuôn bánh thì dùng khuôn bánh muffin, bằng gan thép, loại làm bánh Thửng của Việt Nam, ăn tạm cho vui.

Bánh Căn ngon kiểu Ninh Hòa, phải đúc bằng lò đất sét, đốt bằng than đưót.  Khuôn bánh Căn làm bằng đất sét.  Cái lò đựng than, hình tròn, đường kính to khỏan 6 tất, trên có cái nắp mặt bằng, có mười cái lổ. Mổi cái lổ có một cái khuôn tròn và cạn to bằng cái chén em. Mổi khuôn có cái nấp vung để đậy.


Trước khi đúc bánh, mình châm nửa, quạt than cho đỏ hồng, để khuôn lên, chờ cho nóng, múc một giá bột đổ vào khuôn, đậy cái nấp vung lại, chờ bột chín, cầm cái thìa, múc cái bánh ra, bỏ vào dĩa, phết lên ít mở hẹ là xong. Thường thì cứ hai cái bánh úp lại thành cập. Muốn ăn bao nhiêu cập tùy ý.

Cái bánh Căn ngon phải được đúc với lửa thật cao, cái bánh phải dòn, trên mặt cái bánh có mấy cái lổ nhỏ ly ty. Lúc ăn, gắp cái bánh nóng đầy mở hẹ nhúng vào chén mắm, bỏ vào miệng nhai, dòn dòn, béo béo thơm thơm mùi hẹ, vừa nhai vừa húp một húp nước mắm nghe caí rột. Ngon de kêu.

Muốn chơi sang bỏ thêm cái hột vịt hay hột gà vào bánh, đợi bánh chín, dở nấp vung ra thấy trồng đỏ nằm giửa cái bánh trông giống như cái cờ Thiên Hoàng của Nhựt Bổn.

Cách ăn bánh Căn bây giờ khác hơn hồi xưa một chút xíu. Trước 75 bánh căn lấy từ khuôn ra, để vào dĩa, phết mở hẹ, rồi đưa cho khách ăn. Bây giờ, mở hẹ đựng trong cái tô, bánh đúc xong, lấy bánh ra để vào dĩa, đưa cho khách ăn mà không phết mở hẹ. Người ăn lấy cái chén, múc chén mắm, múc muổn mở hẹ bỏ vào chén mắm, gắp cái bánh nhúng vào mắm mà ăn.

Ăn bánh Căn ngon phải ngồi trước hàng bánh, vừa đúc vừa ăn bánh nóng mới ngon miệng. Ở Ninh Hòa, tháng Mười trời mưa lác đác, lành lạnh, trùm cái áo mưa, ngồi trước hàng bánh, ăn cái bánh Căn nóng, nước mắm thật cay thì tuyệt vời.

Tôi về Việt Nam nhiều lần, và đi nhiều nơi trong nội địa Việt Nam. Mổi lần về tôi đều cố gắng tìm cho đưọc những món đặc sản của quê hương ăn cho đã cơn nhớ. Có một lần, từ Saigon, tôi lên chiếc AirBus 320 của Hàng Không Việt Nam, chỉ mất 35 phút đồng hồ là về đến Nha Trang. Tôi vội xách cái balô, ra khỏi phi cảng,  bắt chiếc Taxi chạy lên Ga cho kịp chuyến xe lữa 6 giờ sáng đi Vạn Giã. Xe chạy đến Ninh Hòa, xe ngừng mười lăm phút rồi chạy tiếp. Ra đến ga Giã lúc 8 giờ sáng, bốc hành lý đi ra khỏi phi cảng, tôi lên xe ôm chạy xuống xóm chùa đường Trần Hưng Đạo gần chợ cá, có hàng bánh Căn ngay bên vệ đường, ăn một chầu no nê, vô cùng thích thú.

Đường Bình



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.