Hôm nay,  

Bó Lồ Ồ Máu

07/11/201700:00:00(Xem: 8697)
Thành T.

 
Hồi tôi bị đi cải tạo trong rừng ở Long Khánh, mỗi ngày chỉ tiêu của mỗi “trại viên” là hai mười sáu cây lồ ồ dài năm thước rưỡi.

Lồ ồ là một loại tre nhưng lóng của nó dài hơn loại tre thường và mọc rất nhiều ở vùng rừng Long Khánh này.  Rừng lồ ồ phủ đây một lớp lá chết đã lâu năm, ướt sủng, khi đạp lên lún tới cổ chân và là ổ của đám vắt.  Lồ ồ đốn về để là mái, vách, cho trại hay được chẻ nhỏ ra làm dây lạt.  Lồ ồ đốn về được chặt ra thành khúc dài và đập cho dập thẳng ra rồi dùng dây lạt đã chẻ kết lại thành từng miếng làm ‘ngói’ để lợp mái trại.  Mỗi người khi vaò rừng được phát một cây rựa ( một loại  dao) nặng, đầu bằng dùng để chặt lồ ồ.  Mỗi sáng đám tù lội vào rừng để tìm lồ ồ chặt; chặt xong, bó lại rồi vác vai, lội ra khỏi rừng về trại,  vác lại điểm  nộp ở trại để  đội trưởng “nghiệm thu” xem có đúng tiêu chuẩn hay không.    Bó lồ ồ của tôi lúc nào cũng bị loại không tiếc tay vì không đủ chỉ tiêu.

... Khi ăn qua loa xong, tôi vác rựa lủi vào trong rừng.  Thời gian đầu thì lồ ồ còn thấy ở bìa rừng nên dễ tìm để chặt nên vác về cũng sớm.  Càng ngày lồ ồ mé ngoài bị chặt gần hết nên người đi chặt phải lội sâu vào xa nữa để tìm.  Đã bị mất thời gian đi tìm rồi lại phải khổ nhọc vác bó lồ ồ nặng trên vai trên đoạn đường về càng ngày càng xa ra, bó lồ ồ càng lúc càng trở nên nặng hơn gấp đôi gấp ba lần!  Tôi là một anh chàng chỉ cầm viết khi đi học rồi cầm phấn khi đi lính nên đây quả đây  là cả một cực hình khổ dịch.  Đó là chưa nói tới lủ vắt khát máu không khác gì bọn cán bộ cai tù , sẵn sàng hút và vắt máu đám tù ốm đói.


Vừa bước vào trong khu rừng thì từ lớp lá chết dưới đất hằng trăm “tên” loe ngoe đứng dậy là dàn chào! Không thể nào luì lại được nữa , tôi vẫn phải tiến vào để chặt.  Mãi miết chặt để cho đủ chỉ tiêụ  (hay để chỉ có tiêu!?)  mà không biết là ‘bọn nó’ đã bò lên đầy người hồi nào!  Khi chặt xong lúc ngồi nghỉ mới thấy mình mẩy đầy máu.  Tôi lật áo, kéo ống quần lên nắm bức từng tên ra quăng đi.  Mỗi lần nắm bức một tên ra thì máu từ lỗ bị cắn lại tươm ra làm người đẩm đầy máu.  Nhưng xin thưa với các bạn như vậy chưa hết khổ đâu!

... Tôi loạng choạng,  qua trợt lại, té lên té xuống, trên đường mòn vác mấy bó lồ ồ chặt xong  ra tới bìa rừng.  Sau khi ngồi nghỉ một chút lại phải vác về điểm để tên đội trưởng ‘nghiệm thu ’. Tôi vì yếu sức nên cứ thấy buị lồ ồ nào là cứ chặt cho đủ số, bất kể gìa hay non, chớ không còn sức để đi lòng vòng lựa chọn.   Mỗi lần nộp thì số lồ ồ tôi chặt bị “phế ” ra không phải là ít.  Làm sao bây giờ?  Ngoài số lồ ồ mấy anh bạn chặt dư cho, tôi lại phải chạy vào rừng lại để lượm nhặt mấy khúc lồ ồ của ai đó là rớt dọc đường đủ nộp cho đủ số!  Hôm nào bị xui xẻo không ai cho thì Chúa Nhật, khi mọi người được nghỉ ngơi,  thì tôi và một số anh bị “thiếu nợ” lại phải vào rừng chặt cho đủ số.

Nhớ lại những giai đoạn bị đày đoạ khi xưa, tôi không thể nào có được cái tư tưởng cao đẹp là “forgive and forget”.  Đối với tôi chỉ có “can not forgive, and can not forget” mà thôi!

Thành T.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.