Hôm nay,  

Người Mẹ Thời Chiến

16/11/201700:00:00(Xem: 10178)
Cổ Tấn Tinh Châu

 
Người Mẹ từ ngàn đời đã trở thành biểu tượng cao quý của lòng nhân hậu, đức kiên trung. Là người con Việt Nam chúng ta càng thêm tự hào về những người Mẹ.

Mẹ là người cả đời lam lũ, tảo tần, chắt chiu nuôi dưỡng bao thế hệ con cháu. Trong cuộc đời mỗi chúng ta, Mẹ là điểm tựa, là niềm tin vững bền, là bóng mát che chở, là nhựa sống truyền cho chồi non lớn lên, thành những người con ưu tú của đất nước.

Hình ảnh người Mẹ luôn bên đời ấm áp, mãi hy sinh, che chở. Từ khi cất tiếng khóc đầu tiên chào đời là ta đã nằm trọn trong tình yêu thương đó. Từng bước đi chập chững trước tiên của đời người, ai đã cầm tay ta dắt đi từng bước một? Khi ta lỡ ngã đau, người lên tiếng xít xoa, cảm nhận được nỗi đau của ta chính là người Mẹ? Ai mừng vui nhứt khi ta cất tiếng nói bi bô của tuổi thơ?

Khi bước chân vào trường, đằng sau ta không bao giờ thiếu vắng cặp mắt theo dõi đầy lo lắng của Mẹ hiền, khó có ai diễn tả được ánh mắt mừng vui hạnh phúc của Mẹ mỗi khi ta được điểm mười?

Từ đó, Mẹ là kho tàng yêu thương hạnh phúc, là tàng cây bóng mát che chở cho con nương náu trong những lúc vấp ngã hay cô đơn thất vọng, con lại tìm về suối nguồn yêu thương ấy để được nghe những lời an ủi, khuyên răn vỗ về sưởi ấm lòng con.

Mẹ đã hy sinh tất cả niềm vui, lẽ sống riêng tư của mình để lo cho con, ở mọi lúc mọi nơi, khi con cần là có Mẹ ở bên cạnh. Mẹ vì con mà ngậm đắng nuốt cay chấp nhận hết tất cả không một lời than van. Mẹ không đòi hỏi sự trả ơn, cũng chưa từng đem sự hy sinh của mình ra đong đếm. Điều mà Mẹ mong chờ nhứt, chính là sự trưởng thành của con mình.

Mẹ luôn nói:

-Các con là sự sống của Mẹ, là niềm tin và tự hào của Mẹ.

 Chúng ta hãy ngẩng cao đầu và vững bước vào đời! Không nên làm gì để hổ thẹn đến gia phong và Tổ Quốc.

Trong thời chinh chiến, người cha phải mang trên vai chí nam nhi bên ngoài chiến trường lửa đạn. Mẹ một mình gồng gánh nuôi con, vượt qua mọi trăm gian ngàn khổ, ôm con chạy giặc. Ta lại nhìn thấy hình ảnh mẹ cao cả, bao la,… trong giây phút nguy hiểm nhứt, lấy thân mình che bom đạn cho con.

Đất nước trải qua bao cuộc chiến xâm lăng trong máu lửa, Mẹ gánh cả giang sơn trên đôi vai gầy lam lũ đi suốt chiều dài lịch sử. Mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng các con, yêu con hơn chính bản thân mình. Hàng triệu-triệu bà Mẹ Việt nam đã lặng lẽ giấu đi những giọt nước mắt để nhìn những đứa con thân yêu của mình ra trận, chiến đấu vì tự do dân chủ của dân tộc và đất nước.

Người Mẹ nuốt nước mắt vào lòng để tiễn chân chồng, con lên đường chiến đấu rồi quay trờ lại một mình vừa lo gia đình còn phải lo chồng, con nơi chiến trận.

Biết bao người Mẹ thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng súng nổ vọng về đây từ nơi nào đó có con đang thi hành nhiệm vụ, Mẹ thổn thức nguyện cầu cho con được bình yên.

Mẹ lo âu sầu khổ, nhớ thương, kém ăn, mất ngủ kể từ khi con gia nhập đời lính. Mẹ luôn giật mình mỗi khi nghe tin từ chiến trận vọng về. Bất hạnh thay nếu tin vọng về con không còn nữa, con chết một lần thì Mẹ chết trăm lần, ruột gan nát tan, bút mực nào tả xiết nỗi đau Mẹ mất con! Tiếng nấc đau thương nào thảm thương hơn khi mẹ khóc con.

Một sự hy sinh cao thượng, dũng cảm, thầm lặng ngoài chiến trường không chỉ riêng người lính chiến chịu, mà nỗi đau oằn trên vai những người Mẹ, người vợ, người thân của các anh hùng đã hiến dâng đời mình cho tổ quốc.Tình yêu thương của người Mẹ đã hòa vào tình dân tộc, tình quê hương. Các chiến sĩ bị thương sau khi rời quân y viện lại về trong vòng tay chăm sóc của Mẹ cho đến ngày trở về đơn vị.


Kể từ hôm nay và mai sau, chúng ta phải nói lên sự mất mát quá lớn lao của những bà Mẹ và vợ chiến sĩ tiễn chồng và con ra đi, đã phải khóc thầm trong đau đớn khi chồng và con mình vĩnh viễn không trở về.

Ngoài chiến trường để bảo vệ đất nước là nhiệm vụ nam nhi, nhưng khi giặc tràn về, qua thôn xóm thì người phụ nữ cũng chung bổn phận cùng chồng con. Ngoài nhiệm vụ nặng nề của người phụ nữ khi chiến tranh nổ ra là ở hậu phương. Nhưng thực tế, thành phần phụ nữ tham gia cuộc chiến ở Việt Nam là một con số rất đáng kể, trong mọi ngành nghề yểm trợ tác chiến và ngay cả việc cầm súng chiến đấu, tiếp tế đạn cho chồng bên chiến hào là những tấm gương sáng không thiếu trong chiến sử Quân Lực VNCH.

Khi đất nước bị xâm lăng, người phụ nữ vẫn rời khỏi gia đình, khỏi vị trí truyền thống của họ để tham gia vào những nhiệm vụ thay cho nam giới trong các cơ sở, văn phòng… Người phụ nữ tham gia quân sự, và kết quả đã cho thấy họ cũng là những tác nhân biến đổi chiến tranh cho sự tiến bộ của phụ nữ.

Phụ nữ đã cống hiến cho Tổ Quốc tài năng, trí tuệ và lòng dũng cảm tuyệt vời, nêu những gương sáng cho con cháu mai sau. Một biểu tượng rất chân thực, thể hiện sự can trường mà cũng rất mực nhân hậu trong người phụ nữ Việt Nam.

Dẫu biết rằng chiến tranh có đau thương, mất mát nhưng không nỗi đau nào sánh bằng nỗi đau của người Mẹ mất con. Trong sự mất mát chia lìa bởi chiến tranh, người Mẹ nào chẳng khóc đau xé lòng vì con mình hy sinh trong trận mạc, dẫu biết chiến tranh nghiệt ngã sinh tử là điều không tránh khỏi, nhưng tình mẫu tử khiến nước mắt Mẹ không còn để khóc những người con lần lượt ra đi, đi mãi mãi.

Đôi mắt Mẹ mờ đi sau bao đêm dài vì thương nhớ con nhưng Mẹ luôn tự nhủ mình không thể gục ngã, còn đàn con thơ và nhứt là còn những đứa cháu nhỏ dại.

Khi bà Mẹ mất một người con, con dâu trở thành goá phụ, cháu nhỏ trở nên mồ côi cha. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ. Chưa hết, khi chiến tranh tàn, người Cha tàn cuộc sống trong lao tù CS thì chính là lúc người phụ nữ, người Mẹ là nguồn sống còn duy nhất cho đàn con bé dại. Đàn con chỉ biết trông cậy vào sự bảo bọc, vào đôi tay yếu gầy đầy tình yêu thương của người mẹ mà thôi.

Chiến tranh đã đi qua hơn 40 năm rồi, vết thương trên da thịt đã lành theo năm tháng, nhưng vết thương lòng Mẹ vẫn nặng mang. Khói lửa chiến tranh đã tan rồi, còn lại một mình Mẹ thôi. Hình ảnh người Mẹ ngồi lặng lẽ bên mâm với mấy chén cơm chờ các con về ăn cùng, ở giữa là bình hương đã khiến tim chúng ta nghẹn lại vì cảm động.

Mẹ mong sao con mình thành nhân, phải sống cho có nghĩa, cho dù phải đánh đổi cái giá quá đắt cho đời mình. Có sức mạnh nào lớn hơn lòng Mẹ, có tình yêu thương nào trải khắp các vùng lửa đạn như tình yêu thương của Mẹ.

Chiến tranh không những cướp đi những người thương yêu, mà còn nhẫn tâm bào mòn nhan sắc, tuổi thanh xuân, niềm yêu đời, và ý nghĩa cuộc sống của những người phụ nữ.

Chúng ta luôn trân trọng, ghi nhớ và tri ân những cống hiến vô giá của những người Mẹ, người vợ của các anh hùng tử sĩ đã ngã xuống cho đất nước.

Cuộc đời cũng như sự đóng góp to lớn của các người Mẹ cho đất nước luôn là tấm gương soi sáng cho bao thế hệ phụ nữ noi theo. Mỗi chúng ta - những người đang được hưởng cuộc sống tự do - cần luôn luôn tự dặn mình phải làm gì, làm thế nào để góp phần làm vơi bớt nỗi đau trong lòng các Bà Mẹ.

Kính chúc các Mẹ luôn sống vui, sống khỏe để thế hệ trẻ được chăm sóc, bù đắp phần nào những đau thương mất mát các Mẹ đã trải qua.

Cổ Tấn Tinh Châu

Tháng 8-2017

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.