Hôm nay,  

Mãnh Lực Mỹ Kim

08/12/200500:00:00(Xem: 11841)
- Ngày Thứ Hai vừa qua, trên các thị trường tài chính thế giới, đồng Mỹ kim lại vừa tăng giá và lên kỷ lục so với đồng Yen Nhật kể từ năm 1979. Tiền Việt Nam sẽ ảnh hưởng ra sao"

Khởi đầu loạt tổng kết cuối năm về kinh tế thế giới, với những ảnh hưởng đối với kinh tế Đông Á và Việt Nam, mục Diễn đàn Kinh tế có cuộc trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trong tháng 12 này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ lần lượt làm một đợt tổng kết về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam trong năm 2005, với dự đoán nếu có thể về những ảnh hưởng trong năm tới.

Để mở đầu, chúng tôi xin được đề cập tới giá trị đồng Mỹ kim, vì như ông có thể thấy, đồng đô la Mỹ lại vừa tăng giá theo một đà liên tục kể từ tháng Giêng năm nay và vì tiền Mỹ vẫn là ngoại tệ được sử dụng phổ biến nhất trong luồng trao đổi mậu dịch của các nước trên thế giới, kể cả Việt Nam.

- Thưa vâng, ta sẽ khởi sự thực hiện một loạt tổng kết để làm cơ sở cho những dự đoán về tình hình năm tới, và sẽ đề cập trước tiên đến trị giá đồng Mỹ kim so với các loại ngoại tệ khác vì dư luận nhiều nơi cứ thường dự đoán là Mỹ kim sẽ bị tuột giá trong khi thực tế thì lại khác.

Hỏi: Trên diễn đàn này, từ năm ngoái, ông có trình bày là thời của đồng đô la rẻ đã kết thúc, mặc dù kinh tế Hoa Kỳ vẫn bị hai nạn khiếm hụt song hành là bội chi ngân sách và nhập siêu về ngoại thương. Vì sao lại có nghịch lý như vậy" Và trước tiên, Mỹ kim đã lên giá ra sao"

- Về bối cảnh chung thì ta đều thấy một thế thất quân bình khó tồn tại giữa hai xu hướng trái ngược. Một đằng là các nước Đông Á có mức tiết kiệm rất cao và ra sức bán hàng rất rẻ vào thị trường Mỹ, trong khi tỷ lệ tiết kiệm của kinh tế Mỹ lại sút giảm và hàng năm, Hoa Kỳ bị nhập siêu nặng, tức là nhập nhiều hơn xuất cảng, bình quân mỗi ngày phải nhập khoảng hai tỷ Mỹ kim mới đủ cho yêu cầu chi dụng và đầu tư. Thế quân bình ấy khó tồn tại và đòi hỏi một sự điều chỉnh. Việc điều chỉnh dễ hiểu và có thể là tất yếu là tiền Mỹ sẽ phải sụt giá, là điều người ta đã thấy kể từ tháng Giêng năm 2002.

Thế nhưng dù ta dự đoán như vậy, kể từ tháng Giêng năm nay, tiền Mỹ đã hết sụt mà còn tăng giá và nếu so với một giỏ ngoại tệ chung, là một chỉ số phức hợp về tỉ giá hối đoái, thì Mỹ kim đã tăng khoảng 14% trong năm nay. So với đồng Yen Nhật và đồng Euro Âu châu thì Mỹ kim tăng hơn 16 và 17%. Một ngoại lệ đáng chú ý cho dư luận Việt Nam là trường hợp của vàng. Vàng đã lên giá mạnh và mấp mé 500 Mỹ kim một troy ounce, tăng khoảng 16%.

Hỏi: Dư luận Việt Nam quả là có chú ý đến vàng vì đây là một phương tiện tồn trữ tài sản thông dụng của dân Á châu.

- Thưa vâng, nếu vàng lên giá đến 16% so với tiền Mỹ, trong khi đô la lên giá chừng 16-17% so với tiền Nhật hay Âu châu thì điều ấy cũng có nghĩa là vàng đã tăng giá đến một phần ba so với Yen Nhật và Euro Âu châu. Hai hiện tượng ấy, Mỹ kim lên giá và vàng lên giá, cho thấy một điều là các quốc gia có tài sản, như các nước công nghiệp hóa trong khối OECD và các nước Á châu mạnh về xuất khẩu, đã tồn trữ Mỹ kim và vàng thay vì tiền Âu hay tiền Nhật.

Tuy nhiên vàng là một phương tiện lưu giữ tài sản mà cũng là một phương tiện đầu cơ nữa. Và nhìn trong dài hạn thì việc tồn trữ vàng không có nhiều lợi ích kinh tế mà còn có thể bị rủi ro lớn vì có khi sụt giá rất nhanh khiến mình dễ sạt nghiệp nếu giữ tài sản bằng vàng.

Hỏi: Xin hỏi ông ngay một câu mà các thính giả tại Việt Nam rất để ý là nhiều nơi dự đoán rằng vàng còn có thể tăng giá đến 800 Mỹ kim một troy ounce. Điều ấy có đúng hay không"

- Dự đoán tương lai luôn luôn là khó, nhất là khi thế giới thực ra đang có chiến tranh, với yếu tố an ninh vẫn có hậu quả bất ngờ, và khi kinh tế thế giới vừa sợ nạn lạm phát vừa gặp một nguy cơ có thể thấy tại Trung Quốc vào năm tới là nạn giảm phát, tức là hiện tượng trái ngược. Một thí dụ là việc dầu thô lên giá mạnh mà có thể sẽ lại đột ngột xuống giá, dưới mức 40 Mỹ kim một thùng trong thời gian tới. Vàng cũng vậy, vì người ta sợ bất ổn, lạm phát và còn đoán là Trung Quốc sẽ trữ vàng trong khối ngoại tệ và quý kim của họ.

Vì thế mà giá vàng tăng giá gấp đôi kể từ năm 2003 và lên tới kỷ lục là 500 đồng kể từ 1987. Thực ra, vàng không là quý kim có giá trị lớn và lâu dài về kinh tế hay công nghiệp và nhiều thống kê cho biết là giới đầu tư lẫn chính quyền Bắc Kinh không dồn tiền vào vàng. Ta không quên là năm 1980, giá vàng đã lên tới 850 Mỹ kim một ounce, nếu gia giảm theo đà vật giá Hoa Kỳ và tiền Mỹ thì giá 500 đồng ngày nay mới bằng 25% thời đó. Nhưng, và đây mới là điều đáng chú ý: vàng vẫn có thể sụt và khi sụt sẽ sụt mạnh. Đầu cơ là lời nhanh mà dễ chết!

Hỏi: Trở lại đồng Mỹ kim, thưa ông, vì sao đô la Mỹ lên giá và thính giả có thể muốn biết rằng chiều hướng này có kéo dài qua năm tới hay không"

- Tôi xin được đề nghị một cách lượng định để ta có chung cơ sở dự đoán, từ đấy mình mới biết vì sao giá cả lại lên hay xuống. Đồng Mỹ kim là một loại hàng hóa, dù đặc biệt vì phổ biến nhất thì vẫn chỉ là một hàng hóa. Trị giá của nó được tính thế nào" Thông thường thì tính theo trị giá của các ngoại tệ khác, như đồng Yen hay đồng Euro. Ta gọi đó là tỷ giá ngoại hối hay nói cho gọn là hối suất. Khi nói Mỹ kim lên giá thì nói chung là lên giá so với hai ngoại tệ kia, vì kinh tế Mỹ, Nhật Bản và Liên hiệp Âu châu là ba đầu máy kinh tế lớn nhất địa cầu.

Bây giờ, về nguyên tắc thì hối suất một đồng bạc được tính ra từ ba loại yếu tố khác nhau. Thứ nhất là sức mạnh của nền kinh tế đã phát hành ra đồng bạc ấy. Nếu kinh tế phát đạt, bán nhiều hơn mua với thế giới bên ngoài, thì trị giá đồng bạc sẽ tăng vì người ta muốn có đồng tiền của xứ ấy để mua hàng từ xứ ấy. Đây là yếu tố đầu tiên về thực lực, nó giải thích vì sao nhiều người dự đoán là Mỹ kim sẽ mất giá khi Hoa Kỳ mua nhiều hơn bán nên bị nhập siêu.

Hỏi: Xin hỏi ngay một câu mà nhiều người có thể cũng nghĩ tới, là theo yếu tố thực lực về mua bán đó thì khi kinh tế Mỹ bị nhập siêu với kinh tế Trung Quốc hay Việt Nam chẳng hạn, điều ấy có nghĩa là đồng nhân dân tệ hay đồng bạc Việt Nam phải lên giá so với tiền Mỹ chứ"

- Thưa rất đúng về nguyên tắc. Nhưng, nếu người ta bán tiền Mỹ và mua tiền Trung Quốc hay tiền Việt Nam - vì hai nền kinh tế này đạt xuất siêu nhờ bán nhiều hơn mua với thị trường Mỹ - thì sau đó có thể làm gì với hai loại đồng bạc ấy" Câu trả lời cho câu hỏi đó dẫn ta đến hai loại yếu tố kia. Trước hết là mức độ khả tín, tức là đáng tin cậy, của hệ thống ngân hàng trung ương đã phát hành ra đồng bạc ấy. Thị trường quốc tế có tin vào Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hay Trung Quốc không mà lưu giữ đồng tiền của hai xứ ấy"

Hỏi: Ông nói về khả năng tạo ra sự tín nhiệm, tức là khả năng chuyên môn của giới lãnh đạo ngân hàng hay còn tiêu chuẩn nào khác nữa"

- Mức độ khả tín này trước hết tùy thuộc vào khả năng chuyên môn, nhưng cũng còn khả năng độc lập về chính trị nữa khi cần bảo vệ trị giá của đồng bạc một cách khách quan. Cụ thể là không lầm lẫn chậm lụt hoặc lại hốt hoảng khi thị trường có biến động và nhất là không bị áp lực cục bộ hay nhất thời của chính trị.

Ngân hàng Trung ương Âu châu ngày nay đang ở vào cảnh làm dâu trăm họ, ít ra là làm dâu cho 15 nước hội viên, vì mỗi nước lại có một yêu cầu khác biệt về kinh tế hay xã hội - có nước thì sợ lạm phát nên muốn nâng lãi suất, có nước lại sợ suy trầm nên đòi giữ lãi suất thấp. Vì vậy, một cơ chế rất có khả năng chuyên môn như Ngân hàng Trung ương Âu châu lại bị nhiều sức ép chính trị trái ngược và điều ấy phần nào giải thích vì sao Euro vẫn không tăng giá so với tiền Mỹ, dù họ vừa nâng lãi suất 25 điểm.

Xét trên tiêu chuẩn ấy, hệ thống ngân hàng trung ương Mỹ có mức khả tín cao, và thị trường quốc tế tin là đồng đô la không bị dùng làm công cụ cho những tính toán chính trị vì giới lãnh đạo hệ thống này có khả năng lẫn tư thế độc lập với nhà nước, với đảng cầm quyền.

Hỏi: Bây giờ, ta qua yếu tố thứ ba có thể chi phối hay xác định giá trị của một đồng bạc…

- Thưa vâng, và yếu tố này cũng giải thích vì sao mà dù Trung Quốc hay Việt Nam có đạt xuất siêu với Hoa Kỳ và ngân hàng trung ương của hai xứ ấy có thể là không xào nấu sổ sách hay chính sách để cố tình làm thay đổi trị giá đồng bạc nhằm chuẩn bị cho một đại hội đảng chẳng hạn, người ta vẫn không lưu trữ đồng nhân dân tệ hay đồng bạc Việt Nam quá nhu cầu trao đổi bình thường.

Yếu tố thứ ba này là tình hình giao dịch các tài sản tài chính được yết giá bằng Mỹ kim. Tình hình ấy là thứ nhất, kích thước của thị trường có đủ lớn không, tức là mức độ phổ biến của đồng ngoại tệ, và thứ hai, quan trọng hơn, khả năng giao hoán ra hiện kim, tức là mức độ lưu hoạt của tài sản đầu tư. Nói cho cụ thể là khi có yêu cầu, người làm chủ tài sản đầu tư bằng Mỹ kim này có thể đổi ra tiền mặt không, thủ tục có mau chóng nhặm lẹ dễ dàng không.

Một thí dụ cụ thể khác là ông bán hàng cho Việt Nam lấy tiền Việt Nam về và dùng tiền ấy đầu tư vào thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Đến khi cần bán ngay cổ phiếu của ông trên thị trường ấy để dùng tiền vào một việc khác có lợi hơn thì phải vượt qua những cửa ải nào và tốn kém ra sao về thời giờ và tiền bạc" Mức độ lưu hoạt ấy là yếu tố rất đáng kể về an toàn.

Hỏi: Nếu xét trên ba tiêu chuẩn ông vừa trình bày là thực lực giao thương, mức khả tín của ngân hàng trung ương và ưu điểm về kích thước và sự lưu hoạt trên thị trường tài chính thì kinh tế Mỹ dù có bị nhập siêu nặng, đô la Mỹ vẫn có hai ưu thế còn lại và điều ấy có thể giải thích vì sao Mỹ kim vẫn lên giá phải không"

- Thưa đúng như vậy và sẽ còn lên giá trong năm tới vì dù sao kinh tế Mỹ vẫn có sức năng động cao nhất trong ba đầu máy kinh tế của thế giới là Mỹ Nhật Âu, với một mức lạm phát tương đối còn thấp, và vì thị trường tài chính Mỹ vẫn là nơi đầu tư an toàn nhất. Chính là các yếu tố ấy mới khiến các ngân hàng trung ương Đông Á trong năm nay có trù tính giảm bớt tỷ trọng Mỹ kim trong khối dự trữ ngoại tệ của họ thì ngược lại, giới đầu tư vẫn dồn tiền mua trái phiếu hay cổ phiếu của Hoa Kỳ.

Đây là ta chưa nói đến một hiện tượng khác là các nước xuất khẩu dầu thô kiếm ra rất nhiều Mỹ kim nhờ dầu thô tăng giá, một số không nhỏ đồng Mỹ kim gọi là Petrodollar ấy cũng lại chảy ngược vào thị trường Hoa Kỳ. Vì vậy mà ta có thể dự đoán là Mỹ kim sẽ còn tăng giá trong năm tới nếu so với đồng Yen Nhật và đồng Euro Âu châu, nhất là đồng Yen Nhật. Kỳ sau ta sẽ nói về hậu quả đối với Đông Á và Việt Nam.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.