Hôm nay,  

Luận Cổ Suy Kim

27/03/201809:44:00(Xem: 6272)
Luận Cổ Suy Kim
 
Nguyễn Lộc Yên

Hiện nay, tại hải ngoại ước khoảng trên 4 triệu người, đa số là người Việt Quốc gia (NVQG), đây là lực lượng đối lập quyết liệt với trên 4 triệu đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN). NVQG ở hải ngoại đã/đang chuyển tin tức cập nhật đến các cơ quan truyền thông, nhân quyền quốc tế, dân biểu, nghị sĩ ở các nước tự do mà họ đang sinh sống, khi biết các nhà đấu tranh dân chủ, các blogger, dân oan, tôn giáo... tại quốc nội bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp dã man. NVQG ở hải ngoại đã/đang Email, phổ biến các tin tức chính xác về quốc nội để phá vỡ kế hoạch tuyên truyền dối trá và bưng bít thông tin khoảng 800 phương tiện truyền thông của CSVN. Ngoài ra “máu chảy ruột mềm”, hàng năm người Việt hải ngoại gởi về Việt Nam để giúp thân nhân khoảng 10 tỷ USD mà số tiền này là nguồn lợi rất lớn cho CSVN. Thế nên, trước đây nhà cầm quyền CSVN gọi người Việt hải ngoại là “Bọn ôm chân đế quốc” lại muối mặt đổi thành “Khúc ruột nghìn dặm”. Đất nước Việt Nam đang nguy ngập bởi thù trong, giặc ngoài, chúng tôi mong ước NVQG cũng cần nghiền ngẫm gương đấu tranh của Tiền nhân đã dựng nước và giữ nước. 
 
     I- Tận tâm đoàn kết chống giặc: Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là con của An Sinh Vương Trần Liễu, Trần Quang Khải là Hoàng tử, con vua Trần Thái Tông. Trần Liễu có mối thâm thù với Trần Thái Tông vì Trần Thủ Độ bắt Thuận Thiên Công chúa (vợ Trần Liễu) đang mang thai ép gả cho Trần Thái Tông. Khi Trần Quốc Tuấn giữ chức Tiết Chế (như Nguyên soái), ông luôn đặt quyền lợi quốc gia trên quyền lợi gia đình, quên thù nhà, sắt son lo quốc gia. Khi biết Trần Quang Khải thường nghi kỵ mình, Trần Quốc Tuấn nghĩ ngành trưởng của mình và ngành thứ (Trần Quang Khải) mà bất hòa thì kẻ có lợi là quân ngoại xâm Tàu, nên ông chủ động giao hảo với Trần Quang Khải, tạo sự thống nhất ý chí vương triều nhà Trần. Một hôm, Quốc công Trần Quốc Tuấn mời Thượng tướng Trần Quang Khải chơi cờ. Trần Quang Khải tính ít hay tắm gội. Quốc công cởi áo và lau rửa giúp Thượng tướng Quang Khải, rồi nói: “Hôm nay tôi được tắm cho Thượng tướng”. Quang Khải cũng mỉm cười: “Hôm nay tôi được Quốc công tắm rửa cho”. Từ đấy, hai người trở nên thân thiết, tương kính nhau và gắn bó trong việc bàn bạc đánh đuổi giặc Nguyên (Tàu) xâm lược. 
     Cuối năm 1284, nhà Trần mở hội nghị Vạn Kiếp, bàn cách chống giặc và kiểm điểm binh sĩ tất cả được 20 vạn, kể cả quân ở các lộ: Bàng Hà, Na Sầm, vẫn không mộ quân ở Thanh-Nghệ, nhà Trần nghĩ quân cốt tinh nhuệ không cần đông. Quân Nguyên xâm lăng Đại Việt lần thứ hai, ngày 21 tháng Chạp, Giáp Thân (1284), nhà Nguyên cử Thái tử Thoát Hoan thống lãnh 50 vạn quân chia làm 2 đạo: Lý Hằng, Ô Mã Nhi đốc suất bộ binh. Toa Đô đem thuỷ quân đi đường biển đánh vào Thanh Hoá. Giặc tấn công ào ạt thành Thăng Long, quân nhà Trần thế yếu. Hưng Đạo Vương đề nghị rút khỏi Thăng Long về Thiên Trường (nay thuộc tỉnh Nam Định). Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Nhân Tông cử danh tướng Trần Bình Trọng (1) đem quân giữ vùng Thiên Mạc, mục đích chận và cầm chân giặc, bảo toàn lực lượng cho bộ chỉ huy triều Trần rút lui được an toàn, để chỉnh đốn lục lượng phản công. Quân giặc dàn trận đông nghịt, Trần Bình Trọng cùng các tướng sĩ nhà Trần vẫn can trường xung trận, quyết giữ tròn nhiệm vụ vua đã giao phó, đến khi sức cùng lực kiệt, ông bị giặc bắt, nhờ vậy mà 2 vua Trần mới thoát đi được. Thoát Hoan dụ hàng, Trần Bình Trọng bảo: “Ta thà làm quỉ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc, ta đã bị bắt thì chỉ có chết thôi”. Thoát Hoan dụ hàng không được, sai quân đem chém vào ngày 21 tháng Giêng, Ất Dậu (26-2-1285) lúc ấy ông 26 tuổi.
     Để hoà hoãn, chỉnh đốn quân ngũ, bất đắc dĩ Thượng hoàng Trần Thánh Tông phải dùng hạ sách “Mỹ nhân kế” đem người em gái út là Công chúa Trần An Tư trao cho Thoát Hoan. Công chúa vì an nguy của xã tắc vì sự sống còn của quốc dân mà đành hiến tuổi trẻ của đời con gái kể cả tính mạng, đơn độc vào nơi hang hùm, còn có thể làm nội gián cho ta. Tháng 3 năm 1285, đưa Công chúa An Tư đến bờ bắc sông Hồng để trao cho Thoát Hoan. Công chúa nghẹn ngào: 
Giặc ấy, ta cam chiều chuộng giặc?!
Thân này, ai thấu ngậm ngùi thân!
Nghẹn ngào, gạt lệ nhìn cương thổ
Nhẫn nhục, chia tay nghĩ quốc dân
     Đến tháng 5 năm 1285, quân dân Đại Việt phản công, bắn chết Toa Đô. Tướng Tàu là Lý Quán giấu Thoát Hoan trong ống đồng kéo chạy về Tàu.
     II- Chia rẽ, đố kỵ nên thất bại: Đến năm 1400, Hồ Quí Ly soán ngôi nhà Trần, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu. Năm 1407, quân Minh bắt được cha con Hồ Quí Ly, rồi nói dối nhà Trần không còn ai, dùng chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ” để con cháu nhà Trần ra mặt rồi bắt thủ tiêu. Chúng còn bắt ép quan lại và các bô lão Đại Việt làm tờ khai: “Họ Trần không còn ai nữa và đất An Nam vốn là đất Giao Châu ngày trước, nay xin lập quận huyện như cũ”
     Trần Quỹ (xem ghi chú 2, con thứ vua Trần Nghệ Tông) biết âm mưu quân Minh nên vào Yên Mô (thuộc Ninh Bình) chiêu binh khởi nghĩa chống quân Minh (Tàu), xưng là Giản Định Đế và lập nhà “Hậu Trần”. Quân Hậu Trần mới tuyển mộ chưa thông thạo chiến trận nên không chống nổi quân Minh, vua phải đem quân vào Nghệ An.
      Đặng Tất (1357-1409) làm Tri phủ ở Hóa Châu từ thời nhà Hồ, sau khi quân Minh chiếm nước ta, ông được giữ tại chức. Ông giết quan lại nhà Minh rồi hiệp với An phủ sứ lộ Thăng Hoa (nay thuộc Quảng Nam) là Nguyễn Cảnh Chân (1355-1409) ra giúp Giản Định Đế. Từ đấy, quân Hậu Trần hùng mạnh, vua cử binh đánh thắng quân Minh nhiều nơi. Tướng nhà Minh là Mộc Thạnh thua chạy về thành Cổ Lộng (Ý Yên, Nam Hà). Vua muốn xua quân chiếm lại Đông Đô (Thăng Long), hai tướng Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân can: “Xin bệ hạ chờ các lộ quân khác về hợp sức thì mới đủ mạnh để giành thắng”. Vua không nghe lời trung trực còn nghe lời gièm pha của bọn hoạn quan, đem chém 2 tướng trung dũng. Con của 2 tướng ấy là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bất bình nên cùng Nguyễn Súy đem quân vào Thanh Hóa, tôn Trần Quý Khoách lên làm vua đế hiệu Trùng Quang, Thế nên, nhà Hậu Trần không còn thống nhất lực lượng, vua quan Hậu Trần đều bị giặc bắt. 
     III- Ngày nay tại tiểu bang Illinois: Gần đây, một số ít người trẻ tuổi xưng là “Hậu duệ VNCH” đã làm được một số việc như: “Diễn hành ngày Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong tại thành phố Chicago”(3). “Cộng Đồng Người Việt Illinois” khi nghe âm thanh người tổ chức diễn hành hô to: “American Veterans” hoặc “Vietnamese Veterans”, đoàn diễn hành liền lạc đồng thanh hô đáp lại “Thank you”, “Thank you American” rất rầm rộ. Thế nên, đi qua suốt 15 blocks đường trong thành phố (khoảng 2 miles), đoàn diễn hành Việt Nam đã gây cho hàng ngàn người dân Chicago đứng hai bên lề đường đồng loạt phất cờ cầm tay, hô đáp trả: “Thank you”, “Thank you Vietnamese”… 

blank
     
     
     Sau đấy, nhóm trẻ này còn thuyết phục được ông Hiệu trưởng trường Trung học Bolingbrook đồng ý “Hạ Cờ Đỏ Việt cộng” thay thế bằng Cờ Vàng (4). Đây là một việc làm khó khăn mà nhòm này vẫn đem về kết quả tốt đẹp và biểu lộ tinh thần chống cộng quyết liệt.
 Tuy nhiên,nhóm “Hậu duệ VNCH” ở đây chỉ có 5-3 người quá ít oi, viết lách tiếng Việt (Thư mời) đôi khi chưa được khúc chiết, mạch lạc. Do đấy, những người lớn tuổi, có người cảm thông, hướng dẫn, có người lại bắt bẻ, hạch sách. Bàn dân thiên hạ còn cho biết có kẻ không chấp nhận, đã cay cú nhóm này, vì nhóm này cũng như một số ít cá nhân và hội đoàn từng có quan hệ với Cù Huy Hà Vũ được gọi là “Tù nhân lương tâm”, ông Cù lại ca tụng TBT/CSVN Nguyễn Phú Trọng và viết bài: “Tự do sẽ chấm dứt hận thù dân tộc” (5), hòng bỏ “Ngày Quốc hận” 30 tháng 4. Thế nên, chúng tôi đã viết bài: “Nỗi niềm ‘Ngày Quốc hận’, ngăn chận âm mưu đen tối” (6) để phản bác lập luận sai trái của ông Cù. Nhóm trẻ này và một số ít cá nhân, hội đoàn đã quan hệ với ông Cù, vì hiểu lầm ông Cù là “Tù nhân lương tâm” là nhân vật chống cộng. Thế nên có người nhân dịp ấy, cay cú nhóm “Hậu duệ VNCH” đến nỗi không muốn nhìn thấy hoặc trưng bày hình ảnh lá “Cờ Vàng” do nhóm này dùng trong ngày “Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong” (Memorial Day). Có kẻ còn hằn học đầy ác ý: “Những người ấu trĩ thấy ‘Cờ Vàng’ ở đâu thì chạy theo, đấy là chống cộng cuội và bưng bô VC”. Than ôi: “Yêu ai, yêu cả đường đi. Ghét ai, ghét cả tông ti họ hàng”. “Cờ Vàng” là biểu tượng của Quốc gia, chúng tôi không tin NVQG lại có vài kẻ hẹp hòi, nhẫn tâm như thế?! Dù vậy, chúng tôi mong rằng những lời đầy ác ý và hẹp hòi của vài kẻ vừa nêu chỉ là nói đùa của thiên hạ mà thôi.
     Cuối cùng, chúng tôi mong mỏi NVQG hải ngoại luôn là lực lượng cần thiết yểm trợ mạnh mẽ cho Đồng bào quốc nội đang chống cả thù trong lẫn giặc ngoài và thiết tha đề nghị các Hội đoàn luôn gắn bó hỗ tương, riêng nhóm “Hậu duệ VNCH” ít ỏi, cần mở rộng để càng ngày càng đông đảo hơn, làm sao được sự yêu mến của các Hội đoàn và Cộng đồng, để được  ủng hộ nhiệt tình.
Ngày 27 - 3 - 2018 
Nguyễn Lộc Yên
 ___________


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.