Hôm nay,  

Nhà Đỏ Vô Thần

28/03/201809:25:00(Xem: 6235)

Nhà Đỏ Vô Thần

 

Tại sao một ủy viên Bộ chính trị như Đinh La Thăng, khi bị tù tội trước Tòa ‘Xin đối xử với bị cáo như số phận một con người’. Chúng ta hãy cùng nhau quay lại một trong những nơi giam giữ khắc nghiệt dưới chế độ cộng sản tại Việt Nam: Nhà Đỏ.

 

 

Nhà Đỏ đó là tên các tù nhân đặt cho nhà kỷ luật nổi tiếng tại trại Xuân Phước, A 20, Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên. Ở đây nó mang hình ảnh chung của các nhà kỷ luật, kiên giam dưới chế độ cộng sản Việt Nam.

 

 

Có Thánh lễ cầu an tha tội, xá tội vong nhân, nhưng nơi đây chỉ có sự ghép tội và dẫn đến cái chết: con người bị buộc tội từ trong tư tưởng, chứ không hà tất phải có bằng chứng đầy đủ mới buộc tội.

 

 

Lễ ghép tội: thường bắt đầu bằng nghi thức tù nhân bị cột chéo tay ngược về phía sau thân cây khá lớn trong tư thế đứng. Các cơ của vòng ngực cùng xương sườn bị kéo ngược giãn ra khi chiếc còng số tám buộc chặt hai cổ tay tréo nhau gộp lại, tất nhiên phải có sự phụ trợ của tù tự giác, mới khiến hai cổ tay khít lại với nhau, theo nhiều người, có vài ký giả từng qua lễ ghép tội cùng kể lại: nước mắt nước mũi tù nhân nào cũng tràn ra dẫy dụa. Màn đầu kết thúc, cho dù có tội hay không có tội, đối với bất cứ ai cũng phải trải qua trước khi bước vào Nhà đỏ .

 

 

Ngoài ra, theo lời các tù nhân xây cất Nhà đỏ truyền lại, họ được lệnh đổ muối thật nhiều dưới nền, nên về khuya cái lạnh giữa rừng khiến Nhà đỏ trở nên rất lạnh và khi thời tiết oi bức cũng trở nên rất nóng như thiêu đốt.

 

 

Đặc biệt ở đây, đó là giờ tử thần, lúc mặt trời sắp lặn dần, rồi khuất núi, cũng là lúc chuẩn bị điểm danh. Khi có tiếng gọi từ ngoài cửa đầy sự ngang ngược hỗn láo, tất cả dù già trẻ lớn bé đều là thằng, tên nầy, tên nọ... là ngụy, phản quốc.v.v.. rồi có tiếng đáp lại đầy sợ hãi từ bên trong, giây phút nầy là khoảnh khắc hồi họp nhất trong ngày, các tù nhân có thể bị lôi ra và bị đánh đập tàn nhẫn về đủ mọi lý do để con người phải đến cái chết.

 

 

Đêm càng về khuya, sương muối đổ vào phòng giam qua các cửa thông gió, khiến quần áo người tù bị cùm bên trong cũng ướt sũng, chỉ có thể ngồi khum người và áo phải kéo lên khỏi đầu để làm mùng tránh muỗi, chúng bay thành đàn vo ve như bầy ong giữa rừng. Việc tắm giặt hầu như không có ở thế giới nầy, nơi cửa ngõ của sự chết.

 

 

Những con người từng trải qua nhà đỏ.

 

 

Con người ấy đã điên: nguyên là một đoàn viên thanh niên cộng sản, phản đối thật mạnh mẽ về những sai trái của chế độ, anh bị kiên giam lâu dài, nên hậu quả nhiều lúc hoảng loạn vừa đi cầu và ăn luôn, hoặc bôi đầy người... chạy khắp trại giam không tấm áo che thân. Trong cơn hoảng loạn như thế, anh càng bị đánh đập nặng thêm, bị lôi đi khắp toàn trại đến điểm cuối cùng là trở lại nhà kiên giam. Miệng luôn lảm nhảm, mỗi khi phát âm lớn lên đó là những lời than oán chế độ, khi thì thầm không ai nghe rõ gì cả. Khuôn mặt của thanh niên đoàn viên nầy xương xương vì có lẽ sự thiếu thốn đã kéo dài không chỉ vài ngày mà nhiều năm, con mắt sáng mở to như dí vào mỗi ai đã từng gặp anh những khát vọng chưa thực hiện được... Việt cộng thì dùng giáo mác đâm thẳng vào người khác, còn nếu có súng, xe tăng là của Nga, Tàu mà hết thảy nạn nhân là người Việt, máu phun tung toé, còn người Mỹ chỉ để lại những hố bom to tướng, họ từ xa bắn hoặc ném xuống và không còn dấu tích gì ngoài vũng nước sâu xanh còn lại... ai văn minh hơn?

 

 

Một sinh viên mang án chung thân khác, người luôn đấu tranh không mệt mỏi trong tù về dân sinh, dân quyền, anh trở nên bất bình thường từ từ rồi điên loạn, tất nhiên sinh viên trẻ nầy đã bị đánh rất nhiều: anh đã nhảy xuống giếng tự tử, may mắn được cứu sống, đã đập đầu vào tường, treo cổ... lần cuối cùng khi được chuyển vào đội hậu cần làm nhà bếp, anh đã nhảy vào chảo nước đang sôi và ra đi vĩnh viễn. Anh đã để lại lá thư tuyệt mạng với những đòi hỏi về dân sinh, dân quyền. Anh là một sinh viên Quốc Gia Hành Chánh và có lẽ không một ai cùng Trường không nhớ về hình ảnh của Anh Nguyễn Văn Bình.

 

 

Có một Linh mục Dòng Đồng Công rất hiền từ, khiêm tốn, chưa ngoài năm mươi, cũng điên từ từ và điên thật. Ai cũng thương mến người về lòng bác ái đã thể hiện khi còn tỉnh táo -  Linh mục Liên.

 

 

Sau một thời gian ngắn ở tại Nhà đỏ, khuôn mặt người nào cũng sưng phù lên và cả bàn chân cũng vậy, họ trầm mặc, ít nói và sau đó là việc chuyển đến bệnh xá để gần nhà xác hơn.

 

 

Nhưng “vật cùng tất biến”, có những người bị kiên giam nhiều lần song vẫn không chết - Các đạo sĩ, họ biết rõ không tránh khỏi kiên giam, nên xem các phòng giam nhỏ nơi đây như là nơi tịnh cốc, nhập thất và tu luyện. Các tù nhân này lúc ra ngoài ngồi đâu họ cũng trong tư thế toạ thiền, và một số người lúc nào cái đầu cũng gật gật. Họ ăn chay và làm điều thiện, cũng có kẻ nói tiên tri bói toán.

 

 

Khi con người quay lưng 180 độ, đó là một sĩ quan trẻ rất hăng say trong cuộc đấu tranh chống bất công trong tù, thuộc nhóm trẻ bất khuất ở trại giam, về sau thất vọng trước những lời hứa suông của các lãnh tụ trong tù, nhất là về nhân cách chính trị của các vị nầy. Tù nhân “một trăm tám mươi độ” đã khai báo hết tất cả các hoạt động bí mật trong tù, khiến không biết bao nhiêu người đã phải vào kiên giam. Hậu quả đã diễn ra phiên toà lưu động để xét xử các âm mưu trong tù như làm thơ, ngâm nga chống chế độ, kể cả các phát biểu được ghi nhận chống phá cách mạng đều bị kiên giam. Nhà Đỏ vào thời điểm này đều đông nghẹt.

 

 

Khi chính khách không còn nhận ra chính mình: chính khách thời hay tuyên bố, và đây là lời tuyên bố của một Luật sư trong tù: -Ở nhà có cha mẹ, ở đây có cán bộ; rồi lúc nằm kiên giam gặp lại một quản giáo cũ, ông đã thốt lên: - Hay quá gặp lại thầy cũ. Luật sư Nguyễn Khắc. Các tù nhân chỉ trích việc thỏa hiệp với cán bộ, ông nói “Tôi chủ trương đối thoại, cứu người”.

 

 

Sự sợ hãi quá mức ở kiên giam Nhà Đỏ, khiến nhiều trí thức như ông không còn biết mình là ai nữa, nỗi ám ảnh về cái chết, những lo toan sẽ mất mọi thứ dù đã bị mất mát rất nhiều rồi, và trong tù những món hời nhưng thật quí: nào cái lon gô để nấu nướng, ít cá khô, lương khô... cái bình đựng nước cùng vài bộ quần áo tù... bên cạnh các tham vọng ẩn kín về quyền lực của con người. Ông cũng bị tên tù “một trăm tám mươi độ” tố cáo, bị kiên giam đến gần chết mới được thả ra.

 

 

Nhưng cũng có Luật sư bất khuất vô cùng, đó là Ông Lý Văn Hiệp, nguyên Thủ lãnh Luật sư Đoàn miền Trung, Cụ bị kiên giam lâu dài nhưng về nhà mới chết.

 

 

Xác ở đây nhưng hồn ở miền cực lạc: nhóm tù nhân thuộc loại nầy không ít, họ co rút người trong cô độc, miệng luôn lẩm nhẩm, ngồi kiểu thiền và luôn nói chuyện với “thần thánh”, các tù nhân gọi họ là những người ở cõi trên. Họ lý giải: xác ở đây nhưng hồn ở miền cực lạc, cuộc sống hằng ngày của chúng ta ở đây chỉ là hình ảnh của cuộc sống thực ở nơi hư vô nào đó mà thôi. Các tù nhân dạng nầy thường đã bị đánh đập rất nhiều trong lúc chấp cung. Họ chống lại việc làm điều ác, nhưng không tin có định luật nhân quả.

 

 

Người ta cũng chứng kiến: những con người vì tha nhân mà có những hành động khác thường như họ sẵn sàng tạo ra các nguyên cớ để được vào nhà kỷ luật hầu mang thuốc chữa bệnh cho anh em bị kiên giam lâu ngày, như giả đánh nhau ngay giữa sân trại giam, tất nhiên trước mắt giám thị phải đưa cả hai vào nhà kỷ luật rồi sẽ phân xử sau, lợi dụng sự sơ hở trong khoảnh khắc nầy, các tù nhân đã giấu thuốc men trong người khi vào đến được nhà kỷ luật là trao ngay... Các hình thức khác như hái dừa trộm, ăn cắp hoa màu... thường phải qua thủ tục lập biên bản, nên có hơi chậm khi anh em đang cần cấp cứu cấp thời. Họ là những người luôn tổ chức cho các tù nhân khác nâng cao trình độ, việc học trong tù là điều lén lút, song hầu như ai cũng muốn học, nhất là ngoại ngữ nếu bị cấm ngặt quá thời học toán, vì sự phát hiện có bằng chứng dù là một chữ tiếng Anh, Pháp, Đức trong túi cũng sẽ bị kỷ luật ít ra bảy ngày.

 

 

Họ là những người thuộc nhóm trẻ đấu tranh đòi quyền sống và được đối xử cho ra con người. Những việc làm của họ thường trong âm thầm và bí mật nhưng nó là sợi dây liên kết về tinh thần trong trại giam, nó là dấu chỉ của niềm tin và hy vọng vì nơi tận cùng của thế giới nầy: con người vẫn còn lòng trắc ẩn, biết yêu thương đồng loại và sẵn sàng hy sinh chính mạng sống của mình. Những anh em rất trẻ nầy, không người nào không mang các dấu ấn đầy thương tích cả về thân xác và tinh thần. Theo thời gian không biết bây giờ các bạn ở đâu, song những ai đã từng qua trại Thung lũng tử thần, bị kiên giam, kỷ luật và được nâng cao trình độ chắc không bao giờ quên vì sự quý chuộng công lý và dấn thân của họ.

 

 

Một Thủ lĩnh giới trẻ trong cuộc đấu tranh tại nhà tù, đó là anh Trần Minh Tuấn, người bạn trẻ này xuất thân từ làng quê của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Nếu viết về tấm gương quả cảm, chí khí của người bạn này sẽ là một tác phẩm. Sau nhiều năm tháng vất vả trên đường tỵ nạn, nghe nói anh đã định cư được ở Mỹ hay Canada? Chưa thấy ai viết về anh, hôm nay có mấy dòng nhớ về Anh.

 

 

Người viết còn nhớ nhiều nhân vật, nay còn sống, trong đó có một bạn trẻ vừa là chủ trương và “Tổng Biên tập” của tờ báo trong tù. Anh bị kiên giam thường xuyên ngay tại Thung Lũng Tử Thần. Khi đến trại Xuân Phước, bạn được chuyền tay một tờ báo mini bằng nửa lòng bàn tay, nội dung với những món ăn tinh thần vô giá cho các tù nhân. Ký giả Vũ Ánh với sự cộng tác của Nhà văn Đỗ Văn Phúc và nhiều tù nhân.

 

 

Và, các vị chân tu khả kính: Cha Bề trên Dòng Tên Nguyễn Công Đoan, Trần Đình Thủ Dòng Đồng Công thì hầu như giúp đỡ gần hết những người khó nghèo mà Người gặp, còn Cha Trần Văn Nguyện mỗi khi thăm nuôi, lúc mang vào là chia hết ngay cho anh em nghèo khổ không có gia đình đến thăm viếng, rồi sau đó ăn bánh xe lịch sử, tức bánh bột khoai mì đen. Ngày ra khỏi trại, Người đi chân không, đôi dép được gửi lại cho ai đó bớt khổ, nơi trại Thung Lũng Tử Thần chân của phần lớn các tù nhân đều bị nứt nẻ vì mỗi khi ra khỏi trại bắt buộc phải đi chân không, dù là lên rừng đốn củi hay khai hoang.

 

 

Người để lại gương bất khuất đấu tranh vì tự do, nhân quyền cho giới trẻ có Thầy Ba, tức Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Thầy nằm nhà đỏ khá lâu nhưng thoát chết, còn Linh mục Nguyễn Luân rất trẻ bị hành hạ chết ngay trong Nhà Đỏ như Linh mục Nguyễn Văn Vàng.

 

 

Nạn nhân kinh hoàng sau tiếng kẻng điểm danh mỗi chiều, có Linh mục Nguyễn Quang Minh, vụ Nhà thờ Vinh Sơn, Sài Gòn, người bị lôi ra bị đánh hộc máu chết vì tội ở tù mà còn giữ bánh lễ. Đối với các bạn tù Xuân Phước, mỗi Thứ Năm Tuần Thánh hầu như anh em đều nhớ cái chết bi thảm của Ngài.

 

 

Khắp các trại giam, dù trong điều kiện nghiệt ngã, tù nhân vẫn giữ Kinh Thánh hay viết tay Kinh Phật, anh em Cao Đài, Hòa Hào thường viết về Sấm Truyền… Tất cả đều xé ra từng mảnh nhỏ và chuyền tay nhau trong niềm tin và hy vọng “Thượng Đế luôn dẫn dắt chúng con trên con đường công chính”.

 

 

Nguyễn Quang Hồng Nhân.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.